Dịch Vụ Bất Động Sản

Dịch vụ môi giới Bất động sản: Nhận ký gửi, ủy thác, quản lý bất động sản,môi giới mua, bán, thuê và cho thuê bất động sản. Chỉ thu phí dịch vụ khi giao dịch thành công, với mức phí hợp lý.

Dịch vụ tư vấn Bất động sản

Tư vấn hoàn toàn miễn phí các thủ tục mua bán và các thủ tục khác liên quan đến giao dịch Bất động sản;.

Dịch vụ làm thủ tục hồ sơ pháp lý

Nhận làm dịch vụ thủ tục, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà (sổ đỏ)

Dịch vụ quảng cáo bất động sản

Quảng cáo, đăng tin mua bán nhà đất theo yêu cầu của khách hàng..

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Bất động sản

Kể từ năm 2000 trở lại đây, tình hình thị trường bất động sản của Việt Nam khá phức tạp. Nếu như trong 3 năm đầu từ năm 2001 đến năm 2003 giá bất động sản bùng nổ thì bắt đầu từ cuối năm 2003 đến nay thị trường bất động sản chuyển sang giai đoạn hạ nhiệt nhanh chóng nhưng các giao dịch của thị trường vẫn “đóng băng”. Vậy, vì đâu mà tình trạng này và hậu quả của nó tác động đến nền kinh tế ra sao là điều cần quan tâm đánh giá. Sau đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng giai đoạn:




1. Giai đoạn thị trường bất động sản bùng nổ (2001- 2003)

Sau một thời gian dài bình lặng, từ năm 2000, giá nhà đất bắt đầu biến động, tiếp đó giá cả tăng nhanh liên tục và đạt đỉnh cao vào khoảng quý II năm 2001. Theo nhiều chuyên gia nhận định, giá bất động sản của Việt Nam giai đoạn này đang ở mức đắt nhất thế giới, cao hơn cả một số thành phố lớn của các nước công nghiệp phát triển. Đánh giá một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng “bùng nổ” trên thị trường bất động sản như: Do nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao dẫn tới nhu cầu về đất đai phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu nhà ở của dân chúng liên tục gia tăng; Do sự đầu cơ trong kinh doanh nhà đất gia tăng mạnh mẽ; Do chính sách của Nhà nước về đất đai; Do yếu tố tâm lý kỳ vọng vào khả năng sinh lợi vô tận của đất; và cuối cùng là do thiếu các thông tin về giá nhà đất.

2. Giai đoạn thị trường bất động sản đóng băng (2003 – nay):

Từ cuối năm 2003 đến nay thị trường bất động sản ở nước ta diễn ra trầm lắng, “đóng băng” như nhiều người nhận xét. Thị trường bất động sản năm sau lạnh hơn năm trước. Theo số liệu thống kê: Năm 2003 giao dịch địa ốc thành công giảm 28%, năm 2004 giảm 56% và năm 2005 giảm 78%!
Giá nhà đất trên mặt bằng cả nước hiện đang có biểu hiện sụt giảm rõ nét, tuy diễn biến không đồng đều và khá phức tạp. Qua khảo sát ở một số địa phương phía bắc thì giá nhà đất có nơi đã hạ tới 30- 40% mà vẫn không có người mua. Chẳng hạn, nhà đất mặt đường ở một số trung tâm huyện lỵ khu vực Vĩnh Tường, Yên Lạc (Vĩnh Phúc); Phong Châu, Đoan Hùng (Phú Thọ); Từ Sơn (Bắc Ninh); Yên Thi, Mỹ Văn (Hưng Yên)… năm 2004 giá lên tới 700 – 800 triệu đồng/mảnh (trên – dưới 100m2), thì nay chào giá 400 – 500 triệu đồng vẫn không có người mua. Ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, TTBĐS cũng không khá hơn. Khu vực Cổ Nhuế, Thanh Xuân Trung, Mỹ Đình (HN)… năm 2004 mức giá rao phổ biến là trên 20 triệu đồng/m2, đến nay chỉ rao bán ở mức trên – dưới 15 triệu đồng/m2 mà vẫn khó bán. Có thể đánh giá một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng “đóng băng” trên thị trường bất động sản như sau:


Thứ nhất: Về bên cầu giảm mạnh xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Cầu giảm mạnh do giá bất động sản ở Việt Nam hiện đang được đánh giá ở mức quá cao so với thu nhập thực tế: Một Việt kiều tại Pháp phân tích trên một tờ báo: “Tại châu Âu, một ngôi nhà điển hình giá thường gấp 4-5 lần lương hàng năm, khi con số này lên đến hơn 6 lần họ đã coi đó là điều không bình thường. Còn ở VN thu nhập bình quân của tầng lớp khá giả ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM vào khoảng 5.000 USD/năm trong khi giá phổ biến của một căn hộ hạng trung ở đây khoảng 50.000 USD tức là gấp 10 lần lương hàng năm. Điều đó có nghĩa là giá bất động sản ở VN đang ở mức không bình thường so với mặt bằng chung của thế giới” . Ở Hà Nội, ngay cả giá bán cho các đối tượng chính sách cũng ở mức 6 triệu đồng/m2, mức giá phi thực tế đối với khả năng mua của đối tượng này. Theo qui luật của thị trường tất yếu khi giá quá cao so với thu nhập thực tế thì đương nhiên sẽ làm cho cầu giảm mạnh, đây là nguyên nhân chính làm TTBĐS bị đóng băng trong thời gian vừa qua.
- Tâm lý “chờ đợi” của người dân:
Vì giá bất động sản được đánh giá đã là quá cao so với thế giới và so với thu nhập của người dân Việt Nam nên người dân kỳ vọng vào giá bất động sản sẽ xuống trong thời gian tới; Đồng thời do Nhà nước đã xiết chặt và quản lý hoạt động mua bán bất động sản và cơ chế chính sách về quản lý đất đai của Nhà nước đang trong quá trình chỉnh sửa và hoàn thiện nên tâm lý của người dân còn “chờ đợi” chưa mua ngay.
- Nhu cầu đối với Thị trường mua bán đất dự án, căn hộ giảm do:
  • Nhà nước điều chỉnh giá đất: Ngày 1/1/2005, bảng giá đất mới được điều chỉnh theo hướng sát với giá thực tế làm cho chi phí đền bù giải toả lên cao (bình quân chi phí đền bù giải phóng mặt bằng theo nguyên tắc phải thoả thuận với dân hiện nay theo quy định của Luật Đất đai cao hơn 10 lần so với chi phí đền bù trước kia, đó là chưa kể đến các chi phí không nằm trong quy định như phải hỗ trợ cho địa phương để giải phóng mặt bằng nhanh hơn), các dự án tiếp tục gặp khó khăn nên đầu tư các khu đô thị giảm mạnh.
  • Lợi nhuận thu từ kinh doanh bất động sản giảm mạnh: Do số lượng vốn để kinh doanh bất động sản rất lớn, tính “lỏng” của bất động sản lại rất kém cùng với việc thị trường bất động sản “đóng băng” và giảm nhiệt nhanh chóng đã làm lợi nhuận từ việc kinh doanh bất động sản giảm mạnh, trong khi các lĩnh vực đầu tư khác như vàng, ngoại tệ, cổ phiếu, lãi suất trái phiếu Chính phủ, địa phương và lãi suất Ngân hàng lại có mức lợi tức rất cao. Nếu chỉ tính trong năm 2005 chỉ số VN-Index tăng khoảng gần 40%, đồng thời trên thị trường OTC giá cổ phiếu của nhiều ngân hàng tăng mạnh lên tới khoảng 200-500% nên đây là những điểm thu hút mạnh mẽ vốn của các nhà đầu tư. Mặt khác, khi lãi suất tăng thì chi phí cho một đồng vốn vay ngân hàng để đầu tư vào các dự án cũng tăng lên và lãi phải trả ngân hàng cũng tăng, làm cho nhà đầu tư gặp khó khăn và người dân không dám vay ngân hàng để mua nhà. Đây là nguyên nhân những nhà đầu tư chuyển hướng kinh doanh sang các lĩnh vực khác ngoài bất động sản.
- Giá vàng liên tục tăng cao từ 2004 trở lại đây:
Trong khi giá bất động sản được đánh giá là quá cao nhưng khi giao dịch thường lại được tính bằng vàng nên việc giá vàng gia tăng mạnh mẽ trong năm 2005 càng góp phần làm cho TTBĐS “đóng băng” hơn nữa. Không chỉ các căn nhà trị giá 200 – 300 cây vàng bị đóng băng gần như hoàn toàn mà đến cả các căn nhà có giá dưới 100 cây. Thị trường mua bán đất dự án, căn hộ mặc dầu không bị ảnh hưởng nhiều khi giá vàng lên xuống do việc thanh toán bằng tiền đồng, nhưng khi giá vàng lên cao cũng khiến cho nhiều chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc giải ngân với ngân hàng.

- Tiêu cực trong xây dựng và đất đai:
Ngoài ra, còn phải kể đến thông tin về tiêu cực trong xây dựng nhà ở chung cư, chất lượng xây dựng các công trình nói chung và cụ thể chất lượng nhà chung cư không đảm bảo, các vụ việc làm sổ đỏ sai quy định như ở Trị An, Sóc Sơn, Đồ Sơn… Tất cả những nguyên nhân trên làm cho thị trường bất động sản ở nước ta trong thời gian qua trở nên ngày càng “lạnh”.

Thứ hai: Về phía cung về nhà đất tăng nhanh do giá BĐS của Việt Nam được đánh giá là quá cao so với giá thành thực tế:

Hiện nay, theo đánh giá của các chuỵên gia, giá chung cư cao cấp từ khoảng 10-15 triệu đồng/m2 sàn đều cao gấp 3- 4 lần giá trị thật, còn nếu xây dựng chung cư từ 10 tầng trở lên, giá đất chỉ vào khoảng 500.000 đồng/m2 và theo đơn giá xây dựng hiện nay giá mỗi mét vuông nhà vào khoảng 3 – 4 triệu đồng thì giá cả trên thị trường bất động sản hiện nay ở nước ta vẫn là quá cao so với giá thành thực tế tạo ra lợi nhuận lớn cho các nhà đầu tư. Điều này dẫn tới việc ngày càng nhiều dự án được mở rộng khiến nguồn cung gia tăng nhanh chóng, nên trong thời gian qua trong quy hoạch sử dụng đất, các địa phương đã để quỹ đất quá lớn để xây dựng nhà ở, các dự án xây dựng chung cư cao cấp vẫn liên tục được khởi công – đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. HCM…
Được biết, thành phố Hà Nội đang thực hiện chương trình đầu tư xây dựng phát triển quỹ nhà ở với hơn 100 dự án. Theo dự tính, đến năm 2010, các dự án sẽ tạo thêm 10 triệu m2 cho quỹ nhà của Hà Nội . Còn tại TP HCM ước tính hiện có hơn 50 dự án chung cư cao cấp đang được xây dựng tại TP HCM, có tháng đến gần 10 chung cư cao cấp tại TP HCM được khởi công xây dựng, dự kiến đến năm 2007 khoảng hơn 20.000 căn hộ sẽ hoàn thành. Theo Ban Vật giá thuộc Sở Tài chính TP HCM, dự kiến quỹ đất đưa vào kinh doanh thông qua đăng ký hơn 1.000 dự án đầu tư hiện nay là 6.000 ha với tổng vốn đầu tư trên 136.000 tỷ đồng. TP HCM cũng kỳ vọng đồng thời với chương trình phát triển nhà ở đến năm 2010 nhằm đưa quỹ nhà lên mức 705.000 căn hộ, tăng 38% so với 1999. Đây là một con số rất lớn, nhưng với giá nhà đất như hiện nay thì rất ít người có đủ tiền để mua những căn nhà này.

Thứ ba: Do Nhà nước áp dụng các biện pháp nhằm hạ nhiệt thị trường bất động sản:

Trước thực trạng về diễn biến thị trường bất động sản như trên, việc quản lý chặt chẽ và kiểm soát thị trường nhà đất trở thành bức xúc. Các cơ quan quản lý nhà nước đã phải vào cuộc nhằm kiềm chế “bong bóng” bất động sản đưa giá đất trở về đúng với giá thực tế nhằm khuyến khích đầu tư và sản xuất kinh doanh, kích thích tăng trưởng kinh tế. Đó là:
  • Lập lại kỷ cương, trật tự ổn định thị trường nhà đất, hạn chế tình trạng mua bán đất không có giấy tờ hợp pháp và đất không hợp pháp: Theo chỉ đạo của Chính phủ, ngày 9/4/2002, UBND thành phố Hà Nội đã ra Chỉ thị 17 về một số biện pháp cấp bách và tăng cường quản lý đất đai. Tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22/4/2002, UBND đã ban hành Chỉ thị 08 về chấn chỉnh và tăng cường quản lý Nhà nước về nhà, đất trên địa bàn thành phố. Các quận, huyện của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã đồng loạt triển khai thực hiện hai chỉ thị trên một cách đồng bộ và kiên quyết. Đồng thời trong năm 2004 Chính phủ ban hành Nghị định 182 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
  • Ban hành các văn bản nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ: Trong đó, Nghị định 181 ngày 29-10-2004 của Chính phủ qui định “dự án phải xây dựng nhà xong mới được bán” không cho phép bán đất nền đã tác động mạnh đến thị trường bất động sản. Thị trường đất nền dự án coi như bị tê liệt, bởi nhiều nhà đầu tư khó có đủ lực để thực hiện từ đầu đến cuối một dự án lớn, nhất là đối với các nhà đầu tư trong nước.
Chỉ sau vài tháng, cơn sốt nhà đất tại 2 thành phố đã phần nào lắng dịu, giá nhà đất có dấu hiệu giảm, tình trạng vi phạm pháp luật đất đai như chuyển nhượng, san lấp mặt bằng trái phép đã giảm nhiều, cơn lốc đầu cơ bất động sản đã lắng dần… Việc mua nhà, đất để đó, chờ giá lên để sang nhượng kiếm lời giảm mạnh. Giá nhà đất tại các tỉnh, thành phố, địa phương khác cũng nguội dần.

3. Hậu quả của việc thị trường bất động sản đóng băng:

Việc TTBĐS đóng băng và có những biểu hiện thoái trào trong thời gian qua, đã gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ tới nền kinh tế.
Trước hết nhiều doanh nghiệp và người dân khó trả lãi ngân hàng và theo nhận định của Hiệp hội Kinh doanh BĐS TPHCM nếu cứ kéo dài tình trạng này sẽ có ít nhất hơn 30% DN bị phá sản, hiện tại TP.Hồ Chí Minh đã có tới 50% các DN kinh doanh địa ốc trên địa bàn phải đóng cửa, 30% hoạt động cầm chừng, chỉ còn 20% là tiếp tục đi sâu đầu tư kinh doanh. Còn ở địa bàn Hà Nội, nếu như mấy năm trước, các văn phòng giao dịch nhà đất, các công ty kinh doanh địa ốc mọc lên như nấm, thì nay lại chẳng khác gì gặp phải lũ quét.
Tiếp đến của việc hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đổ bể là nguồn thu NSNN bị giảm đáng kể và nghiêm trọng hơn sẽ đến lượt các ngân hàng cũng phải đối diện với “nợ xấu”. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện số vốn đầu tư vào kinh doanh BĐS ở nước ta có tới trên 60% là tiền vay ngân hàng. Trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh, có khoảng 4.000 cá nhân, DN đầu tư kinh doanh BĐS với số vốn khoảng 50.000 tỉ đồng, trong đó có tới 28.000 tỉ đồng là vay ngân hàng. Tuy rằng con số này chưa phải là lớn so với tổng cho vay nền kinh tế của toàn hệ thống ngân hàng nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế tại Thái Lan năm 1997 là một ví dụ cho thấy đằng sau sự đổ vỡ của “bóng bóng” bất động sản là sự đổ vỡ dây chuyền của hệ thống Ngân hàng và cuối cùng là hậu quả tất yếu của một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng đã kéo nền kinh tế Thái Lan lùi lại hàng chục năm.

4. Giải pháp:

Trước khi kiến nghị các giải pháp thì điều đầu tiên chúng ta cần khẳng định lại, đó là, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Vì thế, vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường bất động sản sao cho thị trường này hoạt động theo hướng tích cực là cực kỳ quan trọng.
Do đó, cuối tháng 1/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 17: cho phép chuyển nhượng dự án, được phân lô, bán nền ở một số khu vực ngoại thành và địa phương…Nhiều chuyên gia cho rằng, tới đây thị trường sẽ chuyển động theo hướng tích cực. Tuy nhiên, cũng nhiều ý kiến cho rằng việc thực thi Nghị định này chưa đủ làm “tan băng” thị trường bất động sản. Do đó, có thể kiến nghị thêm một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Trước mắt, tạm thời quản lý chặt chẽ việc đấu thầu các dự án đối với các khu đô thị và căn hộ nhằm hạn chế nguồn cung gia tăng mạnh mẽ:
Bởi lẽ, nếu không quản lý chặt chẽ việc cấp phép các dự án đầu tư sẽ dẫn tới tình trạng cung vượt cầu và hiệu quả đầu tư kém như thị trường sản xuất lắp ráp ô tô trong thời gian qua là một ví dụ. Điều này có thể trước mắt sẽ dẫn tới nguồn thu ngân sách địa phương và Trung ương tạm thời bị giảm nhưng sẽ giúp cho thị trường bất động sản “ấm dần”.

Thứ hai: Cân đối lại cung cầu:
Bộ Tài nguyên và Môi trường cần kết hợp với Tổng Cục Thống kê và một số cơ quan hữu quan khác tổ chức cuộc điều tra về nguồn cung, cầu về nhà ở, căn hộ và thu nhập của Việt Nam để có cơ sở cân đối lại cung cầu và đánh giá tiềm năng của thị trường bat dong san Việt nam trong tương lai, từ đó mới đưa ra các chính sách điều tiết thị trường bất động sản một cách hợp lý.

Thứ ba: Các doanh nghiệp cần giảm giá bat dong san về giá trị thực
Điều quan trọng nhất là đưa giá BĐS đúng với giá trị thật. Do giá bất động sản của Việt Nam hiện được đánh giá là cao hơn giá trị thực rất nhiều nên việc giảm giá vẫn đảm bảo cho người bán có lãi và quan trọng hơn là phù hợp với khả năng thanh toán của nhiều người tiêu dùng. Các nhà đầu tư kinh doanh BĐS cần phải chọn lựa giữa hai con đường “sống hay là chết”, có nghĩa là phải chọn lựa giữa việc phá sản của công ty hay việc giảm giá bat dong san để kích thích cầu về nhà ở đối với những đối tượng thu nhập vừa phải và thấp nhằm giữ được sự tồn tại của công ty trên thương trường. Các DN kinh doanh bất động sản cần tung ra thị trường những sản phẩm đúng với giá trị thực, phù hợp với túi tiền của đại đa số người tiêu dùng giúp thị trường sôi động trở lại, tránh những hậu quả về sau.

Thứ tư: Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng: bảo đảm nguyên tắc đồng bộ, nhất quán, tôn trọng các quy luật của thị trường; đồng thời, phải giúp tăng cường tính cạnh tranh. Nhà nước sẽ thông qua một số chính sách như tài chính, tín dụng, thuế… một cách hợp lý để thị trường BĐS hoạt động lành mạnh mới mong phá băng được.

Thứ năm: Hình thành một thị trường bất động sản công khai minh bạch và đầy đủ thông tin cung cấp cho người mua và người bán:
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lý và xây dựng cơ sở thông tin hạ tầng địa chính đủ độ tin cậy, kết nối được với các hoạt động tài chính, ngân hàng, tín dụng, tương thích với khu vực và thế giới để đảm bảo hội nhập kinh tế. Cần có cơ quan chuyên môn về định giá đất (giá QSDĐ), định giá bat dong san khác để có thể chứng khoán hoá các tài sản về bất động sản, tạo điều kiện cho việc mua bán, chuyển nhượng, cầm cố, phát mại trên thị trường.
Bàn thêm về giải pháp “bơm vốn” cho thị trường bat dong san như một số ý kiến đã đưa ra. Vấn đề cơ bản là tiền ở đâu ra? Vì nhà nước không thể dùng tiền từ ngân sách để cứu các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, và càng không thể chỉ đạo ngành ngân hàng cho vay vì hậu quả như vậy sẽ còn nguy hiểm hơn.
Hy vọng, năm 2006, tình trạng thị trường bất động sản sẽ sáng sủa hơn bởi Nghị định 17 ra đời với những qui định mới thông thoáng hơn đã tháo gỡ nhiều vướng mắc cho thị trường bat dong san. Và sắp tới, dự thảo Luật kinh doanh BĐS sẽ được Quốc hội xem xét thông qua trong kỳ họp thứ IX được hy vọng sẽ có những qui định chặt chẽ, minh bạch và là đòn bẩy làm cho thị trường bất động sản ở nước ta trở nên sôi động hơn. Đặc biệt, trong năm 2006, dự kiến, sẽ hoàn thành Đề án phát triển thị trường bat dong san để giải quyết rất nhiều các vướng mắc trong cơ chế chính sách phát triển thị trường.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Đáp án đề thi đại học môn địa lý khối C 2012

 ĐỀ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2012
Môn: ĐỊA LÍ; Khối: C
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I.PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (8,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm)
  1. Trình bày hoạt động và hậu quả của bão ở nước ta. Cho biết nguyên nhân chủ yếu gây mưa mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc và tháng IX ở miền Trung.
  2. Dân số Việt Nam có những đặc điểm gì? Tại sao dân số đông cũng là một thế mạnh để phát triển kinh tế nước ta
Câu II (3,0 điểm)
1. Chứng minh rằng tài nguyên du lịch nước ta rất đa dạng
2. Phân tích các thế mạnh về kinh tế xã hội của Đồng bằng sông Hồng. Tại sao việc làm là một trong những vấn đề nan giải ở vùng này
Câu III (3,0 điểm)
1. Dựa vào bảng số liệu dưới đây, hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản của nước ta trong giai đoạn 2005 – 2010.
SẢN LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ SẢN XUẤT THỦY SẢN CỦA NƯỚC TA
Năm
2005
2007
2009
2010
Sản lượng (nghìn tấn)
3467
4200
4870
5128
- Khai thác
1988
2075
2280
2421
- Nuôi trồng
1479
2125
2590
2707
Giá trị sản xuất (tỉ đồng, giá so sánh 1994)
38784
47014
53654
56966
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010, NXB Thống kê, 2011)
2. Nhận xét tình hình phát triển của ngành thủy sản từ biểu đồ đã vẽ và giải thích.
II. PHẦN RIÊNG (2,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu IV.a hoặc IV.b)
Câu IV.a. Theo Chương trình Chuẩn (2,0 điểm)
Chứng minh rằng vùng biển nước ta giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn lợi sinh vật biển. Các huyện đảo Trường Sa, Hoàng Sa, Vân Đồn, Cồn Cỏ thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào?
Câu IV.b. Theo Chương trình Nâng cao (2,0 điểm)
Phân tích khả năng về mặt tự nhiên để phát triển sản xuất lương thực ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Nêu các biểu hiện chứng tỏ ở vùng này vẫn chưa khai thác hết tiềm năng cho việc sản xuất lương thực.
BÀI GIẢI GỢI Ý
Câu I (2,0 điểm)
1. Trình bày hoạt động và hậu quả của bão ở nước ta. Cho biết nguyên nhân chủ yếu gây mưa mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc và tháng 9 ở miền Trung.
a/ Hoạt động của bão:
Nhìn chung, trên toàn quốc, mùa bão bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng XI, đôi khi có bão sớm vào tháng V và muộn sang tháng XII, nhưng cường độ yếu. Bão tập trung nhiều nhất vào tháng IX, sau đó đến các tháng X và tháng VIII. Tổng số cơn bão của ba tháng này chiếm tới 70% số cơn bão trong toàn mùa. Mùa bão ở Việt Nam chậm dần từ Bắc vào Nam.
Trung bình mỗi năm có từ 3 – 4 cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển nước ta, năm nhiều có 8 – 10 cơn, năm ít có 1 – 2 cơn. Nếu tính số cơn bão có ảnh hưởng đến thời tiết nước ta thì còn nhiều hơn nữa, tính trung bình trong 45 năm gần đây, mỗi năm có gần 8,8 cơn bão.
b/ Hậu quả của bão ở Việt Nam
Ở vùng trung tâm, bão có gió mạnh kèm theo mưa lớn. Lượng mưa do một cơn bão gây nên thường đạt 300 – 400 mm, có khi tới trên 500 – 600 mm. Những cơn bão đổ bộ vào đồng bằng Bắc Bộ có diện mưa rộng nhất. Vùng ven biển Trung Bộ có diện mưa bão hẹp hơn, nhưng lượng mưa bão rất lớn, trung bình chiếm tới trên 1/3 lượng mưa cả năm của vùng. Trên biển, bão gây sóng to dâng cao 9 – 10 m có thế lật úp tàu thuyền. Gió bão làm mực nước biển dâng cao thường tới 1,5 – 2 m gây ngập mặn vùng ven biển. Nước dâng tràn đê kết hợp nước lũ do mưa lớn trên nguồn dồn về làm ngập lụt trên diện rộng. Bão lớn, gió giật mạnh đổi chiều tàn phá cả những công trình vững chắc như nhà cửa, công sở, cầu cống, cột điện cao thế ... Bão là một thiên tai gây tác hại rất lớn cho sản xuất và đời sống nhân dân ta, nhất là ở vùng ven biển.
c/ Nguyên nhân chủ yếu gây mưa mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc và tháng 9 ở miền Trung:
Từ tháng IV đến tháng VII, gió mùa Tây Nam (xuất phát từ cao áp cận chí tuyến nữa cầu nam) hoạt động. Vượt qua biển vùng xích đạo khối khí trở nên nóng ẩm, gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió Nam Bộ và Tây Nguyên. Hoạt động của gió Tây Nam cùng với dải hội tụ nhiệt đới là nguyên nhân chủ yếu gây mưa vào mùa hạ cho cả hai miền Nam, Bắc và mưa vào tháng IX ở Trung Bộ.
2. Dân số Việt Nam có những đặc điểm gì? Tại sao dân số đông cũng là một thế mạnh để phát triển kinh tế nước ta
a/ Đặc điểm của dân số Việt Nam
- Dân số đông, nhiều thành phần dân tộc
+ Số dân nước ta là 84.156 nghìn người (năm 2006). So với các nước khu vực Đông Nam Á thì dân số nước ta đứng thứ ba (sau Inđônêxia và Philipin) và đứng thứ 13 trong số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
+ Nước ta có 54 dân tộc sống ở khắp các vùng lãnh thổ của đất nước, nhiều nhất là dân tộc Việt (Kinh), chiếm 86,2% dân số, các dân tộc khác chỉ chiếm 13,8% dân số cả nước.
+ Có khoảng 3,2 triệu người Việt đang sinh sống ở nước ngoài, tập trung nhiều nhất ở Bắc Mỹ, châu Âu, Ôxtrâylia … Tuyệt đại bộ phận người Việt ở nước ngoài đều hướng về Tổ quốc và đang góp công sức cho xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở quê hương.
- Dân số còn tăng nhanh, cơ cấu dân số trẻ.
+ Tỉ lệ gia tăng dân số qua các thời kỳ không ổn định, thời kỳ chiến tranh chống Pháp mức gia tăng thấp, thời kỳ xây dựng XHCN ở miền Bắc mức gia tăng nhanh, từ khi thống nhất đất nước mức gia tăng giảm dần.
+ Dân số nước ta tăng nhanh, đặc biệt là vào nữa cuối thế kỷ XX, đã dẫn đến hiện tượng bùng nổ dân số. Tuy nhiên, sự bùng nổ dân số diễn ra giữa các giai đoạn, các vùng lãnh thổ, các thành phần dân tộc với tốc độ và quy mô khác nhau.
+ Dân số nước ta thuộc loại trẻ, đang có sự biến đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của cả nước.
+ Từ năm 2000 đến năm 2005:
Từ 0 đến 14 tuổi: giảm từ 33,5% à 27%
Từ 15 đến 59 tuổi: tăng từ 58,4% à 64%
Từ 60 tuổi trở lên: tăng từ 8,1% à 9%
- Phân bố dân cư chưa hợp lý.
+ Mật độ dân số trung bình ở nước ta là 254 người/km2 (năm 2006), nhưng phân bố chưa hợp lý thể hiện ở:
+ Giữa đồng bằng với trung du, miền núi:
Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số, mật độ dân số cao. Ở vùng trung du, miền núi mật độ dân số thấp hơn nhiều so với đồng bằng, trong khi vùng này tập trung nhiều tài nguyên thiên nhiên quan trọng của đất nước.
+ Phân bố không đều giữa các vùng
-Đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao nhất nước với 1.225 người/km2, gấp 4,8 lần mật độ dân số trung bình của cả nước, và khoảng 17,8 lần mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc.
-Tây Bắc có mật độ dân số trung bình thấp nhất nước 69 người/km2.
-Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là những vùng có mật độ dân số trung bình cao hơn mật độ dân số trung bình của cả nước.
-Duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Bắc là những vùng có mật độ dân số trung bình thấp hơn mật độ dân số trung bình của cả nước.
+ Phân bố dân cư chưa hợp lý giữa thành thị và nông thôn.
-Dân số nông thôn chiếm tỉ trọng cao nhất và đang có xu hướng giảm liên tục từ 80,5 % (1990) xuống còn 73,1 % (2005).
-Dân số thành tị chiếm tỉ trọng thấp hơn và đang có xu hướng tăng liên tục từ 19,5 % (1990) lên 26,9 % (2005).
b/ Tại sao dân số đông cũng là một thế mạnh để phát triển kinh tế nước ta?
+ Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Với số dân đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ rộng lớn tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài.
+ Người lao động chiếm hơn 60% dân số, hằng năm tăng thêm khoảng 1,15 triệu người. Người lao động của nước ta cần cù, sáng tạo, khả năng tiếp thu, vận dụng khoa học – kỹ thuật nhanh, nếu được tổ chức quản lý tốt, đào tạo kịp thời, sử dụng hợp lý, thì đây sẽ là nguồn lực có vai trò quyết định đối với quá trình xây dựng đất nước.
Câu II (3,0 điểm)
1. Chứng minh rằng tài nguyên du lịch nước ta rất đa dạng
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.
Tài nguyên du lịch nước ta rất đa dạng, bao gồm hai nhóm : tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
+ Tài nguyên du lịch tự nhiên:
- Địa hình: 200 hang động, 125 bãi biển, 2 di sản thiên nhiên thế giới
- Khí hậu: đa dạng, phân hóa.
- Nước: Sông hồ, nước khoáng, nước nóng
- Sinh vật: hơn 30 vườn quốc gia, động vật hoang dã, thủy hải sản.
+ Tài nguyên du lịch nhân văn:
- Di tích: 4 vạn di tích (hơn 2,6 nghìn được xếp hạng); 3 di sản văn hóa vật thể và 2 di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
- Lễ hội: quanh năm, tập trung vào mùa xuân
- Tài nguyên khác: làng nghề, văn nghệ dân gian, ẩm thực, ...
2. Phân tích các thế mạnh về kinh tế xã hội của Đồng bằng Sông Hồng. Tại sao việc làm là một trong những vấn đề nan giải ở vùng này
+ Các thế mạnh về kinh tế xã hội của Đồng bằng Sông Hồng:
-Dân cư – lao động : Lao động dồi dào. Có kinh nghiệm và trình độ
-Cơ sở hạ tầng phát triển tương đối tốt : Mạng lưới giao thông. Điện, nước
-Cơ sở vật chất – kỹ thuật : Tương đối tốt. Phục vụ sản xuất đời sống
-Thế mạnh khác : Thị trường. Lịch sử khai thác lãnh thổ
+ Tại sao việc làm là một trong những vấn đề nan giải ở vùng này
-Đồng bằng Sông Hồng có mật độ dân số cao nhất nước (1225 người/ km2 – năm 2006), gấp 4,8 lần mật độ dân số cả nước.
-Số dân đông, kết cấu dân số trẻ tất yếu dẫn đến nguồn lao động gia tăng. Trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển, việc làm, nhất là ở khu vực thành thị đã trở thành một vấn đề nan giải ở Đồng bằng sông Hồng.
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm.

Câu III:
Nhận xét:
- Ngành thủy sản nước ta phát triển liên tục từ năm 2005 đến năm 2010
+ Sản lượng tăng 1661 nghìn tấn, tăng 1,48 lần, tăng 48%
+ Sản lượng khai thác tăng 433 nghìn tấn, tăng 1,22 lần, tăng 22%
+ Sản lượng nuôi trồng tăng 1228 nghìn tấn, tăng 1,83 lần, tăng 83%
+ Giá trị sản xuất tăng 18182 tỉ đồng, tăng 1,47 lần, tăng 47%.
- Ta thấy sản lượng nuôi trồng phát triển nhanh hơn sản lượng khai thác
Cơ cấu của sản lượng khai thác và nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản:
(Đơn vị: %)
Năm
Cơ cấu
2005
2007
2009
2010
Sản lượng khai thác
57,3
49,4
46,8
47,2
Sản lượng nuôi trồng
42,7
50,6
53,2
52,8
Năm 2005 cơ cấu sản lượng khai thác lớn hơn cơ cấu sản lượng nuôi trồng nhưng từ năm 2007 đến năm 2010, cơ cấu sản lượng nuôi trồng lớn hơn sản lượng khai thác.
Giải thích:
- Ngành thủy sản của nước ta phát triển nhanh vì nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản:
+ Bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn
+ Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú. Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hằng năm khoảng 1,9 triệu tấn. Biển nước ta có hơn 2.000 loài cá, trong đó khoảng 100 loài có giá trị kinh tế; 1.647 loài giáp xác, trong đó có hơn 100 loài tôm, có những loài có giá trị xuất khẩu cao; nhuyễn thể có hơn 2.500 loài, rong biển hơn 600 loài. Ngoài ra còn có nhiều loại đặc sản như hải sâm, bào ngư, sò, điệp …
+Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm đã được xác định là : ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.
+ Dọc bờ biển nước ta có những bãi triều, đầm phá, các cánh rừng ngập mặn. Đó là những khu vực thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ.
+ Nước ta có nhiều sông suối, kênh rạch, ao hồ, ở vùng đồng bằng có các ô trũng có thể nuôi thả cá, tôm nước ngọt. Cả nước đã sử dụng hơn 850 nghìn ha diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản
+ Nhân dân ta có kinh nghiệm và truyền thống đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Các phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn.
+ Hoạt động khai thác và nuôi trồng được thuận lợi hơn do phát triển dịch vụ thủy sản và mở rộng chế biến thủy sản.
+ Thị trường tiêu thụ mở rộng trong nước và nhất là thị trường xuất khẩu. Các mặt hàng thủy sản của nước ta cũng đã thâm nhập được vào thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ …
+ Những đổi mới trong chính sách của Nhà nước đã và đang có tác động tích cực tới sự phát triển ngành thủy sản.
- Hoạt động nuôi trồng thủy sản nước ta tăng mạnh là do:
+ Tiềm năng nuôi trồng thủy sản vẫn còn nhiều
+ Các sản phẩm nuôi trồng có giá trị khá cao và nhu cầu lớn trên thị trường.
+ Việc đẩy mạnh nuôi trồng sẽ đảm bảo tốt hơn nguyên liệu cho các cơ sở công nghiệp chế biến (nhất là chế biến để xuất khẩu)
+ Việc phát triển nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa điều chỉnh đáng kể đối với sự phát triển ngành khai thác thủy sản
Câu IV.a. Theo Chương trình Chuẩn (2,0 điểm)
Chứng minh rằng vùng biển nước ta giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn lợi sinh vật biển. Các huyện đảo Trường Sa, Hoàng Sa, Vân Đồn, Cồn Cỏ thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào?
Vùng biển nước ta giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn lợi sinh vật biển:
-Nguồn lợi sinh vật : Biển nước ta có độ sâu trung bình, vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan là các vùng biển nóng. Biển nhiệt đới ấm quanh năm, nhiều ánh sáng, giàu ôxy, độ muối trung bình khoảng 30 - 33, sinh vật biển phong phú, giàu thành phần loài. Nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Một số loài quý hiếm, cần phải bảo vệ đặc biệt. Ngoài nguồn lợi cá, tôm, cua, mực…, biển nước ta còn nhiều đặc sản khác như đồi mồi, vích, hải sâm, bào ngư, sò huyết… Đặc biệt là trên các đảo đá ven bờ Nam Trung Bộ có nhiều yến. Tổ yến (yến sào) là mặt hàng xuất khẩu giá trị cao.
Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm: ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.
-Tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ và khí tự nhiên : Biển nước ta là nguồn muối vô tận. Dọc bờ biển nhiều vùng có điều kiện thuận lợi để sản xuất muối. Hàng năm, các cánh đồng muối cung cấp hơn 800 nghìn tấn muối.
Vùng biển nước ta nhiều sa khoáng với trữ lượng công nghiệp. Một số mỏ sa khoáng ôxit titan có giá trị xuất khẩu. Cát trắng ở các đảo thuộc Quảng Ninh, Khánh Hòa là nguồn nguyên liệu quý để làm thủy tinh, pha lê.
Vùng thềm lục địa nước ta có nhiều mỏ dầu khí được phát hiện, thăm dò và khai thác: Rồng, Bạch Hổ, Rạng Đông, Hòn Ngọc, mỏ khí Lan Đỏ, Lan Tây ...
+ Các huyện đảo ở nước ta
Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa
Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng
Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh
Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị
Câu IV.b. Theo Chương trình Nâng cao (2,0 điểm)
Phân tích khả năng về mặt tự nhiên để phát triển sản xuất lương thực ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nêu các biểu hiện chứng tỏ ở vùng này vẫn chưa khai thác hết tiềm năng để phát triển lương thực.
a. Khả năng về tự nhiên :
+ Là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta với diện tích gần 4 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước.
+ Chủ yếu đất phù sa, gồm 3 nhóm đất chính:
* Đất phù sa ngọt ven sông Tiền, sông Hậu, có diện tích 1,2 triệu ha (30% diện tích vùng) là đất tốt nhất thích hợp trồng lúa.
* Đất phèn có diện tích lớn hơn, 1,6 triệu ha (41% diện tích vùng), phân bố ở Đồng tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau.
* Đất mặn có diện tích 750.000 ha (19% diện tích vùng), phân bố thành vành đai ven Biển Đông và vịnh Thái Lan, thiếu dinh dưỡng, khó thoát nước…
+ Khí hậu: có tính chất cận xích đạo, chế độ nhiệt cao ổn định, lượng mưa hàng năm lớn. Ngoài ra vùng ít chịu tai biến khí hậu gây ra, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp quanh năm.
+ Sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cung cấp nước để thau chua, rửa mặn, phát triển giao thông, nuôi trồng thuỷ sản và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt.
+ Khó khăn
* Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn.
* Mùa khô kéo dài gây thiếu nước và sự xâm nhập mặn vào sâu đất liền làm tăng độ chua và chua mặn trong đất.
* Thiên tai lũ lụt thường xảy ra.
b. Các biểu hiện chứng tỏ ở vùng này vẫn chưa khai thác hết tiềm năng để phát triển lương thực.
-Diện tích đất nhiễm phèn, nhiễm mặn còn lớn. Nhiều vùng trũng ngập nước quanh năm. Các bãi bồi ven sông ven biển có thể cải tạo thành đất canh tác.
- Diện tích đất hoang hóa vẫn còn nhiều (19,7% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long), tuy nhiên việc khai thác đất hoang đòi hỏi phải đầu tư lớn.
- Hệ số sử dụng ruộng đất còn thấp, phần lớn diện tích gieo trồng một vụ còn lớn; diện tích gieo trồng hai, ba vụ còn ít. Nếu giải quyết tốt vấn đề thủy lợi thì diện tích gieo trồng sẽ tăng lên đáng kể.
Nguyễn Đăng Lợi
(Trường THPT Vĩnh Viễn – TP.HCM)
Đáp án môn địa lý khối C 2012 sẽ được cập nhật trong thời gian nhanh nhất
Đáp án đề thi đại học môn địa lý khối C 2012
MÔN ĐỊA LÝ 2012: Nên soạn đề cương theo từng chủ đề Nội dung đề thi tuyển sinh đại học môn địa nằm trọn vẹn trong chương trình sách giáo khoa Địa lí 12 theo chương trình chuẩn và chương trình nâng cao. Nội dung đề thi trải đều chương trình lớp 12, bám sát sách giáo khoa và phù hợp với cấu trúc đề thi do Cục khảo thí ban hành. Cấu trúc đề thi địa lý những năm gần đây thường được phân bổ như sau Câu I. (2,0 điểm) gồm Địa lý tự nhiên và Địa lý dân cư. Địa lý tự nhiên thường nằm trong các nội dung sau : Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ.Đất nước nhiều đồi núi.Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển.Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa.Thiên nhiên phân hóa đa dạng.Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai. Địa lý dân cư gồm các vấn đề :Đặc điểm dân số và phân bố dân cư. Lao động và việc làm. Đô thị hóa. Để làm được câu này các em cần phải đọc kỹ sách giáo khoa, hệ thống và sắp xếp lại theo từng vấn đề. Rút ra những ý chính và học thuộc những ý đó. Câu II. (3,0 điểm) là vấn đề Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm Địa lý các ngành kinh tế và Địa lý các vùng kinh tế. Địa lý các ngành kinh tế thường có các nội dung sau :Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp (đặc điểm nền nông nghiệp, vấn đề phát triển nông nghiệp, vấn đề phát triển ngành thủy sản và lâm nghiệp, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp).Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp (cơ cấu ngành công nghiệp, vấn đề phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm, vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp).Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ (giao thông vận tải và thông tin liên lạc, thương mại, du lịch). Địa lý các vùng kinh tế có các nội dung sau : Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ. Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng. Vấn đề phát triển kinh tế – xã hội ở Bắc Trung Bộ. Vấn đề phát triển kinh tế – xã hội ở Duyên hải Nam Trung Bộ. Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên.Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ. Vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở Biển Đông và các đảo, quần đảo.Các vùng kinh tế trọng điểm. Các em nên soạn bài lại theo các chủ đề như trên bằng các gạch đầu dòng từng ý chính. Với câu hỏi này, thường thí sinh phải trả lời câu hỏi “Tại sao?”, giải thích, nhận xét, trình bày, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hai hay nhiều hiện tượng địa lý. Đôi khi đề yêu cầu phân tích và chứng minh một vấn đề địa lý nào đó. Câu III. (3,0 điểm) thường là câu kiểm tra kĩ năng thực hành như: Vẽ lược đồ ViệtNam và điền một số đối tượng địa lý lên lược đồ. Vẽ biểu đồ, nhận xét và giải thích. Đây là câu hỏi quen thuộc về kĩ năng thực hành vẽ biểu đồ mà tất cả học sinh đã được thực hành từ năm lớp 9. Phần này cũng đòi hỏi học sinh phải hiểu được bảng số liệu để phân tích và đưa ra nhận xét phù hợp. Các em cần phải nắm vững phương pháp vẽ các loại biểu đồ như: biểu đồ cột, biểu đồ tròn hay biểu đồ miền … Câu IV.a. Theo chương trình Chuẩn (2,0 điểm) Nội dung nằm trong chương trình Chuẩn, gồm các nội dung đã nêu ở trên. Câu IV.b. Theo chương trình Nâng cao (2,0 điểm). Nội dung nằm trong chương trình Nâng cao. Ngoài phần nội dung đã nêu ở trên, bổ sung các nội dung sau : Chất lượng cuộc sống (thuộc phần Địa lý dân cư). Tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (thuộc phần Địa lý kinh tế – Chuyển dịch cơ cấu kinh tế). Vốn đất và sử dụng vốn đất (thuộc phần Địa lý kinh tế – Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp).Vấn đề lương thực, thực phẩm ở Đồng bằng sông Cửu Long (thuộc phần Địa lý kinh tế – Địa lý các vùng kinh tế). Theo cấu trúc đề vừa nêu ở trên, thì nội dung của chương trình chuẩn ít hơn chương trình nâng cao. Do đó, để tiết kiệm thời gian khi ôn luyện, các em nên chọn chương trình chuẩn. Theo qui luật thông thường, em nào dành nhiều thời gian cho việc học nhiều hơn thì có nhiều khả năng đạt điểm cao hơn

Gợi ý giải môn Lịch Sử khối C, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012

Chiều nay, các thí sinh dự thi khối C vừa hoàn tất bài thi môn Lịch Sử đợt 2 kỳ thi ĐH 2012. Mời độc giả tham khảo gợi ý giải đề thi môn Lịch Sử do trang tuyển sinh nguyện vọng online.
Các bạn tải về tại đây.
lam-thu-tuc-du-thi-dai-hoc

Gợi ý giải môn tiếng anh khối D đợt 2

Sáng nay, các thí sinh dự thi khối D vừa hoàn tất bài thi môn Tiếng Anh, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012. Mời độc giả tham khảo gợi ý giải đề thi môn Tiếng Anh do trang tuyển sinh nguyện vọng online.
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Dậy “sóng” chào bán căn hộ tại Hà Nội

Dậy “sóng” chào bán căn hộ tại Hà Nội

Hàng loạt dự án căn hộ tại Hà Nội đã và đang được chào bán trên thị trường trong khóng hơn 1 tháng nay, phân khúc căn hộ được chào bán có mức giá dao động từ 14-25 triệu đồng/m2.
Thông tin hỗ trợ tín dụng cho thị trường từ NHNN, lãi suất huy động giảm xuống còn 11%/năm, cùng với đó là gói hỗ trợ cho những doanh nghiệp gặp khó khăn của Chính phủ về thuế là 25.000 tỷ đồng, dòng tiền đầu tư công từ nay đến cuối năm khoảng 120000 tỷ, giãn thuế sử dụng đất 12 tháng khoảng 64000 tỷ ,…được đưa ra trong khoảng thời gian từ giữa tháng 4 cho đến nay. Cũng trong thời điểm này, nắm bắt được cơ hội đó không ít chủ dự án bắt đầu giải quyết “hàng tồn” của mình.
Theo thống kê sơ bộ, có khoảng trên 10 dự án căn hộ tại thị trường Hà Nội đang được chính thức chào bán với số lượng căn hộ của những đợt chào bán này ước tính cũng trên dưới 1500 căn. Các dự án chào bán tập trung ở khu vực Hà Đông, với giá từ 14 đến 22 triệu đồng/m2.
Trong đó, có 3 dự án căn hộ cao cấp mới được chào bán với giá khoảng từ 27 – 33 triệu đồng/m2, đều nằm ở khu vực phía Tây. Dự án Golden Land tại số 275 Nguyễn Trãi do Hoàng Huy Group đầu ra là dự án chào bán đầu tiên, trong đó kèm theo tặng ô tô trị giá từ 450-600 triệu đồng.

Căn hộ có tiến độ thi công tốt được quan tâm

Theo đại diện sàn BĐS Sudico cho biết, sàn vừa trở thành đơn vị phân phối chính thức căn hộ Golden Palace Mễ Trì do CTCP Đầu tư Mai Linh làm chủ đầu tư với giá từ 30-33 triệu đồng/m2 (gồm cả nội thất), không gồm gói nội thất là 27-30 triệu đồng/m2, đặc biệt là dự án được BIDV tài trợ vốn lên đến 85% giá trị hợp đồng với lãi suất ưu đãi và thời hạn vay đến 15 năm.
Một dự án căn hộ cao cấp khác cũng được mở bán thời gian gần đây là căn hộ Hồ Gươm Plaza tại Hà Đông, với mức giá từ 19,6 triệu đồng/m2 (chưa VAT) đến 26 triệu đồng/m2. Dự án này do Savills Việt Nam là đơn vị phân phối.
Tuy nhiên, điểm nhấn của thị trường căn hộ lại nằm ở một số dự án có mức giá trung bình, thậm chí có dự án mới còn có mức chào bán chỉ 14 triệu đồng/m2.
Điển hình trong đó này là dự án The Sun Garden tại Phùng Hưng, Hà Đông có mức giá 14,2 triệu đồng/m2 vừa được sàn Maxland tung ra thị trường. Hay chung cư Đại Thanh tại Xa La cũng được bán với giá từ 14 triệu đồng/m2.
Hay như Sàn giao dịch Bất động sản HUD vừa mới chào bán 115 căn hộ thuộc dự án New Skyline với giá từ 27,5 triệu đồng/m2. Vinaconex Xuân Mai chào bán căn hộ Xuân Mai Tower, GP Invest chào bán căn hộ Nam Đô Complex giá khoảng 22 triệu đồng/m2,….
Có rất nhiều dự án căn hộ tại Hà Nội bung hàng trong thời gian qua, và trong thời gian tới một số dự án khác cũng rậm rịch bung hàng
Ông Huỳnh Minh Thành, Phó Tổng Giám Đốc Công Ty HANCO 9 chia sẻ, vào ngày 16/6 tới, Công ty sẽ mở bán chính thức căn hộ Berriver Long Biên. Đại diện của Savills Việt Nam cũng tiết lộ, họ vừa ký được hợp đồng phân phối căn hộ Tay Ho Residence do Công ty Cổ phần Đầutư Xây dựng và Phát triển Nhà số 7 Hà Nội (Handico 7) làm chủ đầu tư, và chính thức chào bán vào tháng 7 tới,…
Hiện tại mặt bằng giá căn hộ tại Hà Đông, Hà Nội đang là khu vực có mức giảm sâu nhất, có dự án đã đưa về mức giá 14 triệu đồng/m2, mặt bằng chung dao động từ 18-22 triệu đồng/m2. Khu vực ven nội đô như quận Cầu Giấy, Đống Đa, Tây Hồ, Hai Bà Trưng dao động từ 24-35 triệu đồng/m2 tùy vào từng dự án.
Mặc dù được chào bán trên thị trường khá nhiều, nhưng khách hàng hiện quan tâm đến căn hộ chủ yếu thuộc đối tượng mua để ở thực. Do đó, để ra quyết định mua thường có thời gian lựa chọn khá lâu, đồng thời nhiều người còn khá e ngại đối với nhiều dự án mới đang trong thời gian góp vốn.
Phạm An
Theo TTVN

Căn hộ nhỏ: Cầu cao, nhưng vướng pháp lý

Sau gần 3 năm giằng co, cuối cùng, nhà thương mại có diện tích 25m2 cũng đã được Bộ Xây dựng “bật đèn xanh”. Tuy nhiên, không ít chuyên gia lên tiếng về cái gọi là “bước lùi” trong quy hoạch đô thị. Ảnh minh họa

Tuy tình hình chung ảm đạm và khó tìm thấy lối thoát cho thị trường nhưng các báo cáo đánh giá thị trường cũng chỉ ra điểm sáng hiện nay là căn hộ bình dân, giá thấp đang dẫn dắt thị trường.

Điểm chung nhất của phân khúc căn hộ bình dân này là giá và diện tích. Trên thực tế cũng ghi nhận một vài dự án căn hộ siêu nhỏ và giá thấp đang tạo được hiện tượng và chiếm lĩnh thị trường.

Trong buổi sáng tháng 6 đẹp trời, thị trường bất động sản Hà Nội chứng kiến hàng trăm người tụ tập trong không gian của sàn giao dịch của công ty tư nhân có dự án tại cầu Tó (Hà Đông, Hà Nội).

Những người tham gia nhẫn nại xếp hàng dài chờ đợi tới lượt mình đăng ký. Cách đó không xa là những tay cò tay khệ nệ cầm cả xấp hồ sơ mua nhà đang hồ hởi giới thiệu căn hộ với những khách hàng mà hắn “săn” được. Giá chênh lệch từ bàn giao dịch và cò môi giới cũng chỉ chênh nhau từ 15 tới 30 triệu đồng/ căn hộ.

Khung cảnh tấp nập hiếm gặp này được duy trì qua hai ngày sau khi các nhân viên sàn giao dịch của công ty chủ đầu tư thông báo hiện không còn hàng để bán.

Điểm thu hút của dự án này là căn hộ diện tích nhỏ dưới 45 m2 chỉ rơi vào khoảng 600 triệu, tính ra giá bán từ 14 đến 14,7 triệu đồng/m2. Theo hình dung của thị trường lâu nay, giá chung cư khi chạm đáy rơi vào khoảng 15 tới 16 triệu/m2 cho dự án căn hộ bên rìa nội đô thì dự án này đã làm nên hiện tượng “phá giá”.

Một dự án khác xảy ra vào những ngày cuối tháng 4 tại Đà Nẵng khi chủ đầu tư  Công ty Cổ phần Đô thị FPT Đà Nẵng đưa mô hình FPT Smart Nano Flat. Căn hộ này có diện tích siêu nhỏ từ 20 đến 25 m2 đã thu hút được Thứ trưởng bộ Xây dựng phụ trách bất động sản tham quan mô hình.

Điểm khác biệt của căn hộ nay là nó được tách ra từ những căn hộ cỡ lớn rộng 50 trở lên, người mua căn hộ siêu nhỏ muốn tăng diện tích thì chủ đầu tư cũng đáp ứng và thời gian trả tiền trải đều theo nhiều năm.

Tuy nhiên ở cả hai dự án trên đều đang vướng phải nút thắt pháp lý bởi theo quy định về diện tích tối thiểu của Luật Nhà ở thì diện tích tối thiểu 45 m2.

Theo TS Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng thì cách duy nhất để cứu thị trường bất động sản hiện nay là xác lập một mặt bằng giá mới phù hợp với nhu cầu số đông người mua. Theo chuyên gia xây dựng này thì: “Hiện tại giá nhà vẫn đang ở mức cao. Mặt bằng giá cao hộ nên rơi vào khoảng  800 triệu đổ lại thì đa số người có nhu cầu mới tiếp cận được”.

Mua nhà qua sàn cũng gặp hàng 'lởm'

Sắp tới, các sàn giao dịch bất động sản sẽ được giám sát chặt hơn nhằm bảo đảm quyền lợi cho khách hàng. Ảnh: TẤN THẠNH

Dù các sàn giao dịch bất động sản được thành lập với mục đích giúp thị trường lành mạnh hơn, thế nhưng thực tế cho thấy trong hoạt động vẫn còn nhiều bất cập.

>> Thấy gì sau những vụ "vỡ nợ, vỡ dự án"?
>> Nữ "đại gia" bất động sản vướng nghi án lừa đảo
>>  "Cò" đất rởm lừa khách mua biệt thự Ciputra >> Cú lừa chấn động của nữ đại gia địa ốc >> Cú lừa trên sàn BĐS gây chấn động giới đầu tư

Một số sàn bất động sảṇ vẫn chưa thoát khỏi lốt “cò” nhà đất bởi cách làm ăn chụp giựt và kết quả là nhiều khách hàng trở thành nạn nhân của những dự án dỏm, bị chủ đầu tư kém năng lực lừa đảo.

Điển hình là vụ hàng trăm khách hàng dính bẫy lừa đảo của cặp vợ chồng giám đốc Công ty TNHH XD-TM Sài Gòn Cây Cảnh (Nguyễn Văn Tình, SN 1962 và Nguyễn Thị Chí Sương, SN 1967) bán đất nền dự án khu dân cư (KDC) Tam Phước, tỉnh Đồng Nai.

Trong vụ án đang chờ được xét xử lại này có dính dáng đến 2 công ty có trụ sở và sàn BĐS tại TPHCM. Trước đó, ngày 26-12-2007, UBND tỉnh Đồng Nai có quyết định phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án KDC Tam Phước cho Công ty TNHH XD-TM Sài Gòn Cây Cảnh.

Mặc dù dự án KDC Tam Phước mới chỉ được chấp thuận giới thiệu địa điểm, chưa đầu tư hay đền bù, giải tỏa... nhưng vợ chồng Tình - Sương đã tổ chức nhiều buổi hội thảo công bố nhằm thu hút khách hàng mua đất nền để kiếm lời.

Sau đó, ông Tình lần lượt ký hợp đồng với các công ty môi giới và với sự “giúp sức” này, Công ty Cây Cảnh đã bán tổng cộng 398 nền đất, thu 84 tỉ đồng. Vừa huy động vốn trái luật, chủ đầu tư dự án KDC Tam Phước cũng không đầu tư tiếp các hạng mục xây dựng hạ tầng như đã cam kết mà chiếm dụng làm vốn riêng và bị cơ quan chức năng điều tra sờ gáy.

Không chỉ vậy, một số vụ việc tranh chấp, khiếu kiện giữa các khách hàng và chủ đầu tư ở một số dự án như: The Montana Apartment (quận Tân Phú) do Công ty CP Ngân Thanh làm chủ đầu tư, tòa nhà Vinacomplex III (quận Tân Bình) do Công ty TNHH Tổ hợp Vina (Vinacomplex) làm chủ đầu tư, The Adonis 1 (quận Bình Thạnh) và The Adonis 2 (quận 8) do Công ty Nguyên Đô hợp tác đầu tư với các đối tác... đều có phần trách nhiệm của các sàn BĐS, khi không thẩm định tính pháp lý của các sản phẩm chào bán ra thị trường.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, trong năm 2011, các cơ quan chức năng của TPHCM đã xử phạt hàng chục sàn BĐS vì những vi phạm trong hoạt động môi giới, giao dịch BĐS với số tiền lên đến hàng trăm triệu đồng.

Hiện TPHCM có 358 sàn giao dịch bất động sản hoạt động, 56 sàn đã ngưng hoạt động hoặc chuyển địa điểm khác nhưng không thông báo với các cơ quan quản lý

Hoạt động của các sàn đang bị thả nổi, tình trạng giao dịch không thông qua sàn chiếm đến 50% số lượng giao dịch trên thị trường. Phần lớn các sàn do chủ đầu tư tự thành lập để bán sản phẩm của mình chứ chưa đáp ứng đúng những yêu cầu về quản lý sàn bất động sản theo quy định...

Tác giả: Hoàng Lan
Nguoilaodong