Dịch Vụ Bất Động Sản

Dịch vụ môi giới Bất động sản: Nhận ký gửi, ủy thác, quản lý bất động sản,môi giới mua, bán, thuê và cho thuê bất động sản. Chỉ thu phí dịch vụ khi giao dịch thành công, với mức phí hợp lý.

Dịch vụ tư vấn Bất động sản

Tư vấn hoàn toàn miễn phí các thủ tục mua bán và các thủ tục khác liên quan đến giao dịch Bất động sản;.

Dịch vụ làm thủ tục hồ sơ pháp lý

Nhận làm dịch vụ thủ tục, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà (sổ đỏ)

Dịch vụ quảng cáo bất động sản

Quảng cáo, đăng tin mua bán nhà đất theo yêu cầu của khách hàng..

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

Marketing là một nghề hay môn khoa học ?

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, động lực thứ hai cho phép marketing mang chất lượng tốt tới các sản phẩm hàng loạt nói chung là công nghệ. Ngày nay, Internet, một phương tiện thông tin đại chúng đầy quyền năng, đang dân chủ hóa hơn nữa cách tiếp cận tới các thị trường. Việc người tiêu dùng có cơ hội so sánh giá cả trên các trang web đã giải quyết khó khăn về sự khác biệt giá giữa các quốc gia và mở rộng hoạt động thương mại.
Marketing là một nghề hay môn khoa học ?
Công nghệ mở cánh cửa cho marketing phát triển
Một nông dân nghèo ở Ấn Độ có thể kiểm tra giá cả hàng hóa trên mạng Interrnet trước khi ông ta bán vụ mùa của ông cho người mua địa phương. Nhờ có sự suy giảm không ngừng trong quá trình xử lý dữ liệu và chi phí lưu trữ, công nghệ hiện nay cho phép các nhà làm thị trường có thể chào mời khách hàng với nhiều lựa chọn hơn bao gồm cả khả năng đưa ra những giải pháp cho các nhu cầu cá nhân với mức chi phí tương đối thấp hơn.
American Express và Entertainment, hai nhà đầu tư nặng đô trong lĩnh vực công nghệ thông tin, giờ đây có thể truyền đạt công nghệ marketing tới những mô hình mua hay tiềm năng bán hàng của phân đoạn người tiêu dùng được xác định chặt chẽ, hoặc những người tiêu dùng cá nhân.
Bản chất tương tác của Internet có nghĩa là khách hàng ngày nay tham gia vào quá trình cùng tạo dựng lên nhãn hiệu và quá trình phát triển của những lời chào hàng trên thị trường. Procter & Gamble gần đây đã mời các khách hàng cùng tham gia biểu quyết về những hương liệu mới được đề xuất cho sản phẩm kem đánh răng Crest.
H.J. Heinz đã làm việc với Google để có được lời bình luận, góp ý họ cho đoạn quảng cáo 30 giây của sản phẩm nước sốt cà chua Heinz; Heinz đã nhận được hơn 2000 bài viết góp ý.
Các nhà làm thị trường tập trung vào việc làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng ở tất cả các mức thu nhập khác nhau, cho dù họ sống ở bất kỳ đâu trên thế giới , thì chắc chắn đó là một mục tiêu đáng giá để tấn công.
Tại sao sau đó marketing thường xuyên nhận được lời chỉ trích từ phía người tiêu dùng? Và tại sao những nhà làm thị trường lại thể hiện sức đề kháng yếu kém như vậy? Có hai lý do chính. Thứ nhất, marketing không phải là một nghề. Thứ hai, marketing không phải là một môn khoa học.
Marketing không phải là một nghề hay một môn khoa học
Không giống như kế toán hay luật, marketing không phải là một nghề. Bất kỳ ai cũng có thể tự nhận mình là nhà làm thị trường. Việc thiếu những rào cản gia nhập cho phép sức sáng tạo, sức tưởng tượng và những ý tưởng mới có cơ hội phát huy tối đa. Nhưng mặt trái của nó chính là rất nhiều nhà làm thị trường vô trách nhiệm đã lợi dụng cơ hội này để lừa gạt người tiêu dùng – một hiện tượng đang trở lên quá phổ biến.
Việc thiếu vắng những cuộc kiểm tra chuyên nghiệp và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp đã tạo cơ hội cho những kẻ lợi dụng công cụ marketing có được sự phê chuẩn của thị trường và pháp luật. Phần đa những nhà làm thị trường trung thực và tôn trọng người tiêu dùng nhưng nói chung họ cần phải làm việc cật lực hơn để thể hiện bản thân và chặn đứng những kẻ bịp bợm.
Cùng lúc đó, những người tiêu dùng chỉ trích marketing đã thể hiện sự phản đối của họ tới những sản phẩm gây hại cho sức khỏe con người như thuốc lá với thái độ thù ghét những công cụ marketing đã đưa sản phẩm này tới người tiêu dùng.
Họ cũng có xu hướng đánh giá quá cao mức độ lừa bịp có chủ tâm và sự xúc phạm mà người tiêu dùng phải gánh chịu. Như thần tượng David Ogilvy trong một đoạn quảng cáo nổi tiếng thời đầu của kỷ nguyên quảng cáo đã nói: “Người tiêu dùng không phải là con nít. Họ là vợ của anh”.
Có lẽ những người làm thị trường sẽ tự tin hơn về những đóng góp của họ nếu marketing là một môn khoa học với sự rõ ràng về những thứ nên làm và những thứ không nên làm. Thực tế, marking là một môn nghệ thuật chứ không giống như môn khoa học, giống như não phải hơn là não trái.
Nhiều quan chức tài chính có thể vẫn đồng ý với câu ngạn ngữ nổi tiếng của Wanamaker: “Một nửa số quảng cáo của tôi là vô giá trị. Tôi chỉ không biết đó là nửa nào”. Nhưng sự hiểu biết của chúng ta về công việc marketing, có thể trả lời những câu hỏi như thế nào, tại sao, đã được nâng lên rất nhiều trong 20 năm qua.
Phân tích dữ liệu chi phí thấp cho phép các nhà làm thị trường hiểu được ở mức độ nào và sự hòa hợp của những động lực khích lệ sẽ tạo ra sự thay đổi hành vi người tiêu dùng, thậm chí xuống tới mức độ của người tiêu dùng cá nhân.
Các nhà làm thị trường không thu được lợi ích gì nếu họ quấy rầy khách hàng thông qua việc truyền đi những thông điệp tới những người không quan tâm tới sản phẩm hay dịch vụ của họ. Giờ đây những nhà quản lý thị trường có thể tính toán được doanh thu dựa trên đầu tư marketing và báo cáo thường xuyên với hội đồng quản trị về quá trình phát triển của ba hay bốn nhãn hiệu.
Thậm chí với những sự tiến bộ vượt bậc này, các nhà làm thị trường vẫn thực hiện một công việc marketing nghèo nàn đến bất ngờ. Họ không đánh giá cao, không kết nối những lợi ích xã hội và kinh tế của marketing. Sự trao đổi trên thị trường dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau giữa người mua và người bán. Chúng tạo ra giá trị cho cả hai bên.
Hàng tỉ giao dịch thị trường hàng ngày thành công đưa ra những sự lựa chọn cho khách hàng. Sự lựa chọn thúc đẩy tiêu dùng và sự tăng trưởng kinh tế và tạo điều kiện cho sự thể hiện cá nhân. Các nhà làm thị trường giỏi cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về những sản phẩm và dịch vụ mới, qua đó đẩy nhanh sự chấp nhận của ngươi tiêu dùng với những cái mới.
Theo gomm

Vì sao các công ty nên tiến hành tiếp thị qua Internet ?

Mặc dù số lượng hách hàng thăm viếng các cơ sở kinh doanh truyền thống vẫn chiếm số đông nhưng số người sử dụng Internet như một kênh thông tin quan trọng nhất, tiện lợi nhất, đang càng ngày càng tăng với tốc độ chóng mặt. Dưới đây là 10 lý do tại sao các công ty nên cân nhắc để tiến hành các chiến dịch online marketing.

Vì sao các công ty nên tiến hành tiếp thị qua Internet ?
Đưa Internet vào chiến lược tiếp thị không còn mới mẻ đối với các doanh nghiệp trong thời đại mà nền kinh tế mạng đang giữ vai trò thống soái. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn rất nhiều công ty, cả nhỏ lẫn lớn, chưa xây dựng được cho mình một chiến lược tiếp thị qua Internet . Bắt đầu từ năm 1994, bất cứ một tổ chức nào không tạo dựng được chiến lược sử dụng Internet để tiếp thị sản phẩm hay dịch vụ của mình, có thể đều đang phạm một sai lầm lớn.

1. Internet – điểm đến để tìm kiếm thông tin

Có lẽ lý do quan trọng nhất để các công ty cần có một chiến lược tiếp thị trên Internet là sự thay đổi ở cách thức các khách hàng tìm kiếm thông tin.
Mặc dù số lượng hách hàng thăm viếng các cơ sở kinh doanh truyền thống vẫn chiếm số đông nhưng số người sử dụng Internet như một kênh thông tin quan trọng nhất, tiện lợi nhất, đang càng ngày càng tăng với tốc độ chóng mặt.
Đặc biệt, họ sử dụng các công cụ tìm kiếm như là cánh cổng của tri thức và các trang tìm kiếm hiện nay đang trở thành nơi được những người sử dụng Internet truy cập nhiều nhất. Các chuyên gia tiếp thị cần phải nhận ra rằng Internet bây giờ đã và đang trở thành sân chơi hữu ích, thiết thực của đông đảo người tiêu dùng.
Và bởi vậy, nếu muốn sản phẩm của mình được nhiều người biết đến, họ không thể đứng ngoài sân chơi lý tưởng này.

2. Internet – điều kỳ vọng của khách hàng

Internet không chỉ là nơi tập trung các nguồn thông tin khác nhau về mọi loại hình sản phẩm, dịch vụ, mà nó còn đang được kỳ vọng là nơi mà các khách hàng có thể nghiên cứu về các sản phẩm cũng như thực hiện việc mua bán một cách đơn giản nhất, tốn ít thời gian nhất. Điều này đặc biệt hiệu quả đối với các khách hàng trẻ tuổi.
Tại nhiều nước trên thế giới, chứng “nghiền” Internet đang ngày càng phổ biến, đặc biệt là trong giới trẻ. Khi các thành viên này trở thành người quản lý gia đình và doanh nghiệp, chắc chắn họ sẽ mong đợi sự hiện diện của các sản phẩm/dịch vụ của công ty mình trên Internet.

3.Qua Internet, các doanh nghiệp có thể nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng

Là một công cụ thu thập thông tin, Internet đóng vai trò vô cùng hiệu quả trong việc cung cấp thông tin về hoạt động của khách hàng. Mỗi khi có người ghé thăm một trang web, chắc chắn họ đã để lại một số “dấu vết” trên trang web đó: họ đã kích vào mục nào, họ đã mua bán món hàng gì… và hàng loạt các thông tin khác.
Khi gắn kết phương thức nhận biết khách hàng, ví dụ như các công cụ truy nhập, các chuyên gia tiếp thị có thể biết được khách hàng quay trở lại trang web của mình như thế nào. Việc nắm bắt được các hành vi và sở thích của khách hàng sẽ giúp bạn kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng, và nếu làm được việc này, bạn sẽ có thể biến họ trở thành những khách hàng “ruột” của mình.

4. Internet giúp bạn dễ dàng tiếp thị đến đúng đối tượng mục tiêu

Cách làm hiệu quả nhất đối với các chuyên gia tiếp thị là nhắm vào những ai đang quan tâm đến những thứ mà họ chào bán. Tuy nhiên, việc này không hề dễ dàng thực hiện chút nào. Người ta có thể đang ném tiền qua cửa sổ khi các clip quảng cáo trên truyền hình không chuyển tải được thông điệp cần thiết đến khách hàng mục tiêu chỉ vì người tiêu dung đang ngày càng trở nên bội thực với hằng hà sa số các quảng cáo.
Trong khi đó, Internet lại là công cụ tiện lợi nhất để truyền tải thông tin với tốc độ nhanh nhất đến không chỉ một vài chục người, vài trăm người, mà là hàng triệu triệu người trong thế giới rộng mở không còn cách biệt bởi biên giới địa lý này.

5. Internet là công cụ hữu hiệu kích thích tâm lý mua hàng tùy hứng

Bất kể khách hàng có thích sản phẩm hay không, Internet đã tỏ ra là công cụ rất tốt để thúc đẩy các trường hợp tiêu dùng mang tính tùy hứng. Sự tiến bộ của công nghệ cao có thể giúp các ông chủ doanh nghiệp dễ dàng làm được việc này.
Chỉ cần đưa ra các gợi ý về sản phẩm dựa trên việc nghiên cứu thái độ, tâm lý của khách hàng, các nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ đã có thể tổ chức tốt các giao dịch trực tuyến. Tâm lý thích mua trước trả sau, thích mua nhiều để được giảm giá… của người tiêu dùng trong các giao dịch trực tuyến chính là điều mà các công ty kinh doanh mạng quan tâm, khai thác triệt để.
Tuy nhiên, việc nhiều khách hàng trở thành con nợ trong thời gian dài cần có sự kiểm soát vì nếu khách hàng nợ quá nhiều sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động của cácnhà tiếp thị trực tuyến.

6. Internet cho phép nhà sản xuất chào bán các sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu cá nhân của khách hàng

Trong thời đại bùng nổ của Internet, các nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ có thể phát triển lượng khách hàng trung thành khi chất lượng sản phẩm và dịch vụ đưa ra thỏa mãn được nhu cầu cá nhân của từng khách hàng.
Điều này cho phép các chuyên gia marketing trực tuyến thực thi các chiến lược tiếp thị theo yêu cầu của khách hàng mà theo đó, khách hàng có thể được thoải mái, tự do lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ mà họ yêu thích. Bản chất tương tác của Internet cho phép nhà sản xuất tạo ra sản phẩm cho riêng bạn, giúp cho việc lựa chọn mua sắm của bạn trở nên dễ dàng.

7. Internet mở ra cơ hội giao dịch trực tuyến tiện lợi nhất, linh động nhất cho khách hàng

Internet là một đại lộ thông tin, một siêu thị khổng lồ, nơi mà người tiêu dùng có thể ghé thăm hay mua sắm tuỳ thích. Internet cho phép khách hàng xem sản phẩm mẫu trên mạng, từ cây kim sợi chỉ cho đến xe hơi, biệt thự…
Nhờ đó, khách hàng có thể đưa ra quyết định ngay lập tức sau khi xem quảng cáo. Trước khi có Internet, công cụ quảng cáo phổ biến nhất đối với người tiêu dùng là gọi điện để mua hàng thông qua các kênh quảng cáo trên truyền hình hoặc báo chí.
Tuy nhiên, việc chuyển khách hàng từ trạng thái không vận động (ví dụ như ngồi xem tivi) sang trạng thái vận động (ví dụ khi nhấc máy điện thoại lên và quay số) là không hiệu quả so với việc họ có thể nhấp chuột trực tiếp lên các mẩu quảng cáo để từ đó đưa ra quyết định của mình.

8. Internet truyền cảm giác về một nhà cung cấp dịch vụ hoàn hảo, toàn diện.

Internet dễ dàng biến các nhà phân phối và đại lý trở thành nhà cung cấp sản phẩm hay dịch vụ với chất lượng hoàn hảo, toàn diện. Không như các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ truyền thống, các trang web bán hàng trực tuyến tạo cho người tiêu dùng cảm giác tốt đẹp về nhà cung cấp.
Thông qua trang web, người tiêu dùng dễ có cảm giác rằng, các cửa hàng kinh doanh trên mạng có một “cơ ngơi” hiện đại với nhiều chủng loại sản phẩm. Điều này có thể được thực hiện bằng cách đưa thông tin về sản phẩm và dịch vụ của công ty lên trang web, tuy nhiên, phía sau đôi khi “nhà sản xuất” lại là một đối tác kinh doanh truyền thống khác.
Chỉ cần có sự thỏa thuận, sắp đặt về thời gian giao nhận hang hóa, phương tiện vận chuyển sản phẩm…, bạn đã có thể cung cấp hàng hóa đến khách hàng có nhu cầu. Với cách sắp đặt như vậy, khách hàng sẽ cảm thấy như mình đang làm ăn trực tiếp với các nhà cung cấp cùng các dịch vụ hoàn hảo của họ, trong khi thực chất sản phẩm và dịch vụ lại được lấy từ các nguồn khác.

9. Internet cho phép người tiêu dùng sử dụng sản phẩm, dịch vụ với chi phí thấp, giá thành hạ, chất lượng dịch vụ tốt

Công nghệ Internet đang thay thế các phương thức cung cấp sản phẩm và dịch vụ truyền thống cũng như trong việc nắm bắt các thông tin về nhu cầu của khách hàng. Người ta dễ dàng thấy được khả năng tiết kiệm chi phí trong việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ dưới dạng số hóa (ví dụ như âm nhạc, ấn phẩm, thiết kế đồ họa…), trong đó, chi phí sản xuất và vận chuyển bị loại ra khỏi giá thành sản phẩm.
Người bán hàng cũng được hưởng lợi thông qua việc khuyến khích khách hàng thu thập thông tin về sản phẩm trên mạng trước khi có giao dịch trực tiếp. Điều này giúp nhà sản xuất tiết kiệm thời gian trong việc giải thích các thông tin sơ lược về công ty và sản phẩm để có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc nắm bắt và giải quyết các vấn đề quan tâm của khách hàng.
Như đã phân tích ở trên, Internet có thể cho phép giảm thiểu chi phí vận hành và quản lý đồng thời cung cấp các giá trị tốt hơn cho khách hàng.

10. Internet hiện diện khắp nơi trên thế giới

Internet là kênh truyền thông và phân phối cho phép khách hàng tiềm năng trên toàn cầu truy cập tới các sản phẩm và dịch vụ của công ty. Thông qua trang web, các nhà kinh doanh ở khắp nơi trên thế giới có thể mở rộng thị trường mục tiêu ra gấp nhiều lần.
Nếu như trước đây khi chưa có thương mại điện tử, các giao dịch quốc tế diễn ra phức tạp với chi phí khá tốn kém thì ngày nay, Internet đã kết nối tất cả mọi người với nhau thành một cộng đồng kinh doanh không biên giới quốc gia .
Cho dù việc lập nên trang web không bảo đảm cho việc kinh doanh mang tính chất toàn cầu (còn cần tiến hành nhiều việc khác để trang web có tính thương mại toàn cầu), Internet vẫn được coi là một bước nhảy vọt trong việc kinh doanh mang tầm cỡ toàn cầu.
Theo gomm

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Viral marketing

Viral marketing là một hình thức tiếp thị mà ở đó người ta truyền đi thông điệp tiếp thi cho người khác bằng nhiều cách một cách tự nguyện. Tạo ra sự tăng trưởng theo cấp số nhân mật độ hiển thị của thông điệp cũng như hiệu quả của nó. Viral marketing có thể dưới hình thức email. video clip, game, ebook, hình ảnh hoặc thậm chí là tin nhắn.

Khái niệm Viral marketing
Viral marketing dựa trên các nghiên cứu của khoa học xã hội, đặc biệt là tâm lý học, xã hội học và kinh tế. Mục tiêu của một chiến dịch marketing dạng này là  tạo ra “lời đồn” về một sản phẩm hay ý tưởng, để ý tưởng này lây lan rộng rãi cho người khác. Nếu hiệu quả, viral marketing đòi hỏi rất ít chi phí trong khâu tuyên truyền bởi chính người nhận thông điệp sẽ có thể trở thành nguồn lây lan thông điệp.  Ban đầu, viral marketing cần xác định những cá nhân có mội quan hệ xã hội rộng phát tán thông điệp để thu hút nhóm người khác.
Năm 1996 trong bài báo ‘The virus of marketing’1 trên tạp chí Fast companycủa giáo sự Jeffrey Rayport trường Harvard đã đề cập đến một kỹ thuật marketing, mà sự lan truyền của thông điệp giống như sự lây nhiễm của những virus ông gọi kỹ thuật đó là viral marketing hoặc v-marketing. Những virus lây lan từ người này sang người khác, họ hoàn toàn bị động tiếp nhận nó hoặc bị nó xâm nhập. Các thông điệp marketing cũng được lan truyền theo cách như vậy từ người này tới người khác, vì tính thú vị, độc đáo, mới lạ của thông điệp marketing mà những người đã xem nó không thể không chia sẻ cho người khác, hay nói cách khác là làm cho người khác bị lây nhiễm. Dưới dạng những sự trải nghiệm thú vị của người này chia sẻ cho người khác. Những virus gây bệnh cần có thời gian để ủ bệnh, khi lượng virus đã đủ để gây bệnh thì lúc đó cơ thể vật chủ mới phát bệnh. Cũng giống như hoạt động của các virus mà tốc độ lan truyền của thông điệp marketing sẽ chậm trong thời gian đầu, sau đó tốc độ này tăng dần và trở nên bùng nổ.
Khái niệm Viral marketing
Thuật ngữ sau đó được phổ biến rộng hơn vào năm 1997 bởi Tim Draper và Steve Jurvetson, những người sáng lập hãng Draper Fisher Jurvetson trong bài báo ‘Viral marketing phenomenon explained’2 – Giải thích hiện tượng Viral marketing đăng trên trang web www.dfj.com để miêu tả sự bùng nổ dịch vụ thư điện tử Window Live Hotmail của chính hãng này.
Hotmail là dịch vụ thư điện tử lớn nhất thế giới, có số người đăng kí ban đầu nhanh hơn bất kì công ty nào trong lịch sử thế giới. Trong vòng hơn một năm số người đăng kí sử dụng dịch vụ của Hotmail tăng từ 0 cho đến 12 triệu lượt, trung bình có 150.000 lượt đăng kí mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần. Với chi phí chưa đến 500.000$.
Theo phân tích của Draper và Juvetson thì viral marketing là hình thức marketing mà người tiêu dùng là đối tượng tham ra trực tiếp vào quá trình lan truyền thông tin, quảng bá sản phẩm, và bán hàng thông qua mạng internet. Như trường hợp của Hotmail, những người dùng Hotmail đều gửi email cho bạn bè, người quen, đối tác để giao dịch và giữ liên lạc với nhau. Thông qua đó họ đã gửi tới người thân, bạn bè, đối tác của mình dịch vụ của Hotmail, kèm theo một sự khẳng định ngầm về độ tin cậy của dịch vụ (vì chính người đó đang sử dụng). Mặt khác trên mỗi email như thế lại có những nút ‘dùng email miễn phí với Hotmail’ để những người nhận được email từ bạn mình có thể đăng kí sử dụng dịch vụ một cách dễ dàng. Tương tự là dịch vụ gửi quà của iShip.com hay dịch vụ gửi tặng sách của Amazon.com. Trên mỗi sản phẩm được giao bởi iShip hay Amazon đều kèm theo một phiếu giới thiệu về công ty, dịch vụ, những lợi ích mang lại cho khách hàng.
Viral marketing là sự lan truyền những thông điệp marketing kèm theo sự bảo đảm của người gửi, về chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Dựa vào mức độ thân thiết của các mối quan hệ trong xã hội. (Việc nhận email, hoặc quà tặng từ bạn mình cho dễ làm người tiêu tin tưởng hơn việc nhận được thông điệp đó từ tờ rơi hoặc email được gửi trực tiếp từ công ty). Việc lan truyền thông điệp được thực hiện chủ yếu bởi người tiêu dùng và thông qua mạng internet do đó doanh nghiệp có thể hạn chế chi phí marketing tới mức thấp nhất.
“Viral marketing miêu tả bất cứ chiến lược nào mà khuyến khích các cá nhân truyền một thông điệp marketing tới những người khác, tạo ra tiềm năng cho sự tăng trưởng theo hàm số mũ của tin nhắn và ảnh hưởng của nó tới người nhận. Cũng giống như virus, những chiến lược như vậy tận dụng các phép nhân nhanh chóng làm bùng nổ tin nhắn từ hàng ngàn, đến hàng triệu”3. Nếu hai cách hiểu trên coi viral marketing là sự lan truyền các thông điệp marketing một cách tự phát do những người tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ thực hiện. Thì cách hiểu này nhấn mạnh vào yếu tố khuyến khích các cá nhân lan truyền thông điệp marketing. Doanh nghiệp phải chủ động có những hành động để khuyến khích, động viên người tiêu dùng gửi đi thông điệp đó cho những người khác. Cụ thể như tặng quà, hoặc phiếu giảm giá hoặc vé tham dự một sự kiện nào đó do doanh nghiệp tổ chức cho những ai gửi được nhiều thông điệp nhất.
Vậy một cách chung nhất có thể hiểu viral marketing là một kỹ thuật marketing. Mà khuyến khích các cá nhân truyền một thông điệp marketing tới những người khác trong môi trường kĩ thuật số. Quá trình đó diễn ra liên tục, cứ một người nhận được thông điệp sẽ truyền lại cho nhiều người khác, dựa vào công nghệ kỹ thuật số tạo ra tiềm năng cho sự tăng trường và ảnh hưởng theo hàm số mũ của thông điệp tới những người tiêu dùng khác.
Chia sẻ thông tin là nhu cầu không thể thiếu của con người, họ chia sẻ với nhau đủ loại thông tin, từ những thông tin liên quan đến công việc, giải trí, hay về gia đình. Do đó nếu một thông tin, gây ra sự chú ý cho một người và nếu người đó cảm thấy muốn chia sẻ thông tin thì ngay lập tức họ sẽ nghĩ đến những mối quan hệ gần gũi của mình như đồng nghiệp, bạn bè, gia đình… Cứ như thế, tùy thuộc vào mức độ gây ấn tương của thông tin mà thông tin đó được truyền đi một cách nhanh chóng hoặc không được truyền đi. Giả sử thông tin được mọi người quan tâm thì việc bùng nổ thông tin sẽ diễn ra một cách nhanh chóng. Ví dụ: có tin đồn là Ngân hàng nhà nước Việt Nam sắp đổi tiền, nếu thông tin này được phát ra từ một nhân viên có uy tín trong ngân hàng, ngay lập tức nó sẽ được lan truyền nhanh chóng cho tất cả mọi người, từ cán bộ công chức, tới những người bán hàng rong…
Để đảm bảo thông điệp marketing sẽ được mọi người truyền đi, nó phải có những yếu tố khiến người nhận được nó không thể không gửi cho những người khác. Những thông điệp mang tính hài hước, gây cười, gây sốc, hoặc đề cập đến những vấn đề tế nhị trong xã hội như tình dục, sự phân biệt đối sử .v.v. thường rất hay gây được sự chú ý, và là đề tài bàn tán của nhiều người. Hoặc như trường hợp của Hotmail là chính bản thân sản phẩm.
Do đặc điểm của thông điệp marketing có tính lây lan cao kết hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin, như mạng internet, mạng truyền thông di động nơi mà cho phép thông tin cùng lúc có thể được gửi cho hàng trăm, hàng nghìn người. Tạo điều kiện cho tốc độ lan truyền thông điệp marketing tăng lên theo hàm số mũ và nhanh chóng tạo ra sựu bùng nổ thông tin.
Theo Tạp chí marketing

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

Marketing mạng xã hội nên tránh những việc sau

Dù có năng động thế nào đi chăng nữa trên mạng xã hội, các hoạt động này đòi hỏi phải được đầu tư cả thời gian và ngân sách. Vậy liệu các nỗ lực của bạn có mang lại kết quả có lợi cho doanh nghiệp? Dưới đây là 5 sai lầm lớn nhất mà doanh nghiệp thường gặp phải khi sử dụng mạng xã hội.

5 sai lầm marketing mạng xã hội nên tránh

1. Phát ngôn một chiều

Nhiều doanh nghiệp dành thời gian tự giới thiệu về chính mình vì họ nghĩ rằng đây là tất cả những gì cần làm. Nhưng vô tình việc tự giới thiệu này lại cản trở khách hàng nói lên ý kiến của mình. Ngày nay, khách hàng rất muốn ý kiến của họ được lắng nghe và phản hồi. Nếu doanh nghiệp chỉ tự giới thiệu và không tạo điều kiện cho khách hàng lên tiếng và trở nên gắn kết hơn, bạn đang lãng phí thời gian vô ích vào các hoạt động tiếp thị trên mạng xã hội này.
Khi cập nhật tin tức trên mạng xã hội, hãy thông báo cho khách hàng bằng cách sử dụng chức năng tag hay gửi thông tin trực tiếp. Bên cạnh đó cũng nên dành thời gian ghé qua “nhà” của khách hàng, hỏi thăm, tìm hiểu thêm về họ, bàn luận và chia sẻ những gì họ yêu thích. Bằng các hoạt động gắn kết này, bạn sẽ đi vào trái tim của họ.

2. Không biết thời điểm biến cuộc thảo luận thành cơ hội kinh doanh

Nhiều doanh nghiệp dành rất nhiều thời gian trao đổi với “hàng xóm”, nhưng lại không thể mời họ sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Những người hàng xóm này chỉ mua sản phẩm khi bạn làm cho họ cảm thấy tin tưởng. Chính vì vậy việc đầu tiên là phải lấy được lòng tin của họ, sau đó thiết lập quy trình để thúc đẩy họ mua sản phẩm.
Tôi lấy kinh nghiệm bản thân làm ví dụ. Tôi áp dụng nguyên tắc 3/3 như sau: không nói nhiều hơn 3 lần, mỗi lần không quá 3 phút, đưa ra những lời khuyên miễn phí, nghiên cứu về hoạt động xây dựng thương hiệu của khách hàng và trực tiếp giúp đỡ họ trước khi yêu cầu kí kết hợp đồng tư vấn. Khi đề nghị kí kết hợp đồng, tôi sẽ gửi bản đề nghị phạm vi công việc tôi có thể tư vấn.

3. Dành quá nhiều thời gian

Ngày nay có rất nhiều ứng dụng được phát triển dành riêng cho mạng xã hội và bạn có thể bị xa lầy vào việc nghiên cứu và tìm hiểu tính năng của các ứng dụng mới này. Thay vì tốn hàng giờ nghiên cứu, hãy định ra một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày hay tuần để tìm hiểu về các tính năng mới này, nếu không bạn sẽ mất rất nhiều thời gian và không thể tập trung hơn vào mục tiêu cuối cùng của các hoạt động tiếp thị mạng xã hội là gắn kết khách hàng và tạo ra doanh thu.

4. Thông điệp nghèo nàn

Khách hàng có thể trở nên choáng ngợp với rất nhiều thông tin sai lệch đang xuất hiện đầy rẫy trên internet hiện nay. Do đó doanh nghiệp rất dễ tạo ra hình ảnh sai lệch khi giao tiếp trên mạng. Trong một số trường hợp, nội dung họ nói hoàn toàn không liên quan tới doanh nghiệp và tính cách thương hiệu.
Rất nhiều doanh nghiệp cập nhật tin tức vì họ cho rằng cần phải làm vậy và do đó đưa ra những thông tin không thể hiện được chính mình. Nếu doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nghiêm túc, đừng đưa những thông tin mang tính chất giải trí, hài hước mà hãy sử dụng thông tin như số liệu thông kê, kiến thức mới. Ngược lại bạn có thể sử dụng các thông tin mang tính giải trí hay các đoạn video vui nhộn khi doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực mang tính giải trí.

5. Bán hàng lộ liễu

Việc chỉ nói tới giá cả sản phẩm bao nhiêu không chỉ lãng phí thời gian mà còn là một sai lầm. Hãy tưởng tượng nếu bạn đang đứng trước đám đông và chỉ giới thiệu về sản phẩm của mình, người nghe sẽ bỏ đi hết.
Thay vì vậy, hãy chia sẻ những thông tin mới nhất trong ngành và khuyến khích khách hàng tham gia trao đổi. Đây là cách nối gần khoảng cách giữa bạn và khách hàng. Và những fan mới này sẽ tự quảng bá về bạn vì họ cảm nhận được rằng họ là một phần trong bạn.
Theo gomm

Marketing Online và Marketing truyền thống

So sánh Marketing Online và Marketing truyền thống:

 
marketing online So sánh Marketing Online và Marketing truyền thống

Người dùng ngày càng sử dụng internet nhiều hơn, hành vi của họ cũng dần thay đổi, điều này giúp cho Marketing Onlinetiếp tục phát triển mạnh mẽ. Và khi Internet là 1 kênh tương tác 2 chiều thì marketing truyền thống ngày càng tỏ ra yếu thế, bài viết dưới đây sẽ so sánh 2 hình thức marketing này.

Trước khi so sánh, ta hãy điểm qua những ưu điểm của Marketing Online:
  • Khách hàng đang online ngày càng nhiều
  • Là chiến lược marketing dựa trên sở thích, xu hướng của khách hàng
  • Tiếp cận được khách hàng liên tục 24/7
  • Tương tác 2 chiều giữa doanh nghiệp và khách hàng
  • Tiếp cận chính xác tới từng khách hàng (1 to 1)
  • Dữ liệu và thông tin có thể lưu trữ dễ dàng
  • Thông tin và nội dung có thể tùy biến được
  • Hiệu quả có thể đo lường được
    • Chi phí thấp.
Bảng so sánh Marketing Online và Marketing truyền thống:


online offline marketing So sánh Marketing Online và Marketing truyền thống

Đặc điểm Marketing online Marketing truyền thống
Phương thức Sử dụng internet,các thiết bị số hóa Chủ yếu sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng
Không gian Không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ Bị giới hạn bởi biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ
Thời gian Mọi lúc mọi nơi,phản ứng nhanh, cập nhật thông tin sau vài phút Chỉ vào một số giờ nhất định, mất nhiều thời gian và công sức để thay đổi mẫu quảng cáo hoặc clip
Phản hồi Khách hàng tiếp nhận thông tin và phản hồi ngay lập tức Mất một thời gian dài để khách hàng tiếp nhận thông tin và phản hồi
Khách hàng Có thể chọn được đối tượng cụ thể,tiếp cận trực tiếp với khách hàng Không chọn được nhóm đối tượng cụ thể
Chi phí Thấp,với ngân sách nhỏ vẫn thực hiện được,có thể kiểm soát được chi phí quảng cáo Cao, ngân sách quảng cáo lớn,được ấn định dùng 1 lần
Lưu trữ thông tin Lưu trữ thông tin khách hàng dễ dàng, nhanh chóng Rất khó lưu trữ thông tin của khách hàng


Rõ ràng với những lợi thế của mình, Marketing Online đã trở thành tất yếu của nhiều doanh nghiệp. Và nếu biết đầu tư đúng mức hiệu quả của Marketing Online mang lại sẽ vô cùng lớn.
Nguồn: doanhnhans.info

Tiếp thị trực tuyến – lựa chọn sao cho hiệu quả?

Tiếp thị trực tuyến ngày càng được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế khó khăn, bởi chi phí “dễ chịu” hơn rất nhiều so với tiếp thị bằng các loại hình tiếp thị truyền thống. Tại hội thảo “Nhận định xu hướng tiếp thị trực tuyến 2012 -2015” do EQVN tổ chức ngày 25/5, các bên đã chia sẻ nhiều vấn đề quanh công cụ tiếp thị mới mẻ này.
Tiepthi.jgp  Tiếp thị trực tuyến – lựa chọn sao cho hiệu quả?

Ai là người dẫn dắt?
Nhân sự làm tiếp thị trực tuyến xuất phát từ hai nguồn: từ những người chuyên ngành tiếp thị hoặc chuyên ngành công nghệ thông tin. Rào cản về mặt kỹ thuật là thách thức khá lớn với những người làm tiếp thị. Muốn sử dụng tốt các công cụ như SEO, Google AdWords, Google Analytics… phải có trình độ nhất định về công nghệ thì mới dễ tiếp cận.
Tuy nhiên, “dân marketing” lại vững vàng trong việc tạo lập chiến lược tiếp thị, định hướng xây dựng và phát triển thương hiệu, mục tiêu xây dựng hình ảnh thương hiệu thế nào, hướng tới khách hàng tiềm năng nào, ở đâu… Ngược lại, “dân IT” dù rất thuần thục trong việc sử dụng những công cụ tiếp thị trực tuyến nhưng lại thiếu kiến thức, kinh nghiệm về tiếp thị.
Theo ông Trần Ngọc Chính, Giám đốc công ty VietProtocol – một đơn vị cung cấp dịch vụ tiếp thị trực tuyến thì ngoài chi phí “dễ chịu”, tiếp thị trực tuyến có lợi điểm là khả năng đo lường được hiệu quả tốt hơn các kênh khác. Ông cho rằng người làm tiếp thị trực tuyến cần phải có một chiến lược rõ ràng ngay từ ban đầu. Dựa trên mục tiêu marketing của chiến dịch để xác định đúng thị trường và đưa ra lựa chọn đúng đắn cho những công cụ tiếp thị trực tuyến nào có khả năng mang lại hiệu quả cao nhất.
Điều quan trọng là phải biết cách đo lường hiệu quả của từng chiến dịch, biết mình sẽ đo lường cái gì, từng công cụ sẽ mang lại hiệu quả ra sao. Để làm được điều này, người làm tiếp thị trực tuyến cần trang bị và cân bằng kiến thức tốt cả về tiếp thị lẫn kỹ thuật.

Quảng cáo hiển thị hay công cụ tìm kiếm?
Tại Việt Nam, các chuyên gia tiếp thị trực tuyến ước tính tỷ lệ sử dụng quảng cáo hiển thị (display ads với banner là công cụ phổ biến nhất) ở Việt Nam lên tới hơn 80% trong tổng ngân sách tiếp thị trực tuyến, còn thông qua công cụ tìm kiếm thì mới chiếm khoảng 15%. Tuy vậy, ở những nước phát triển, theo kết quả nghiên cứu 2011 của IAB (Hiệp hội Quảng cáo tương tác) thì hiện tại, các công cụ tìm kiếm thường chiếm hơn 50% ngân sách tiếp thị trực tuyến.
Ông Hidetake Hanji, Trưởng đại diện CyberAgent Inc. tại Việt Nam chia sẻ các kinh nghiệm về tiếp thị trực tuyến ở thị trường Nhật Bản: Với ngân sách khoảng 10 tỷ USD dùng trong tiếp thị trực tuyến thì khoảng 40% được dành cho “display ad” (quảng cáo hiển thị, ví dụ như banner), khoảng 30% cho công cụ tìm kiếm và khoảng 20% là quảng cáo trên điện thoại di động. Gần đây, xu hướng sử dụng tiếp thị trực tuyến trên điện thoại thông minh cũng đang thịnh hành ở Nhật Bản.
marketing online Tiếp thị trực tuyến – lựa chọn sao cho hiệu quả?
Tự làm hay thuê ngoài?
Một số chương trình đào tạo về tiếp thị trực tuyến hướng mạnh đến đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ vì ngân sách khiêm tốn. Tuy nhiên, việc nhiều nhân sự đi học tiếp thị trực tuyến không đồng nghĩa với việc tự làm sẽ mang lại kết quả cao nhất. Việc học này giúp họ có hiểu bíêt nhất định về những điểm mạnh, điểm yếu của công cụ này, phương pháp thực hiện cơ bản, cách chọn lựa đơn vị cung cấp dịch vụ như thế nào cho hợp lý…
Trên thực tế, việc chọn đơn vị cung cấp dịch vụ để thực hiện các chiến lược marketing không đơn giản nếu người chọn – doanh nghiệp không có hiểu biết và kinh nghiệm về nó.
Chẳng hạn, các đơn vị cung cấp dịch vụ thường tuyên bố “Cái gì tôi cũng làm được”, mặc dù trên thực tế họ thường chỉ mạnh một công cụ nhất định như SEO, Google Adwords, social media (Facebook, forum seeding), hoặc quảng cáo banner…
Ngoài ra có nhiều đơn vị sử dụng các “chiêu trò” không lành mạnh ảnh hưởng đến cả thị trường. Một diễn giả đã nêu lên trong hội thảo câu chuyện vì sao Google không cho sử dụng các coupon giảm giá cho Google Adwords ở Việt Nam nữa. Đó là do các đơn vị dịch vụ đã tung tiền mua lại các coupon này (từ các cá nhân) và dùng nó trong các chiến dịch của mình cho khách hàng với các mức phí “rẻ bèo”.
Chiêu cạnh tranh bằng cách “phá giá” khá phổ biến trong giới làm Google Adwords khiến nhiều đơn vị chuyên nghiệp phải kêu trời. Khách hàng có xu hướng chỉ chọn các đơn vị dịch vụ đưa ra mức phí rẻ nhất. Trong khi đó, các đơn vị này không hề quan tâm đến việc tư vấn marketing, chẳng hạn như tư vấn sử dụng từ khoá – keyword nào là có hiệu quả nhất.
Ông Trần Quốc Minh, Trưởng nhóm quảng cáo bằng công cụ tìm kiếm tại công ty Fifth iMedia kể, một khách hàng đã quay lại công ty ôngsau khi thất vọng với một agency khác – nơi đưa ra mức giá rẻ hơn với chất lượng thấp hơn hẳn. Ông cho rằng việc “bán đắt mà chất lượng” là một chiến lược đáng để theo đuổi lâu dài, và nó làm cho thị trường ngày càng phát triển lành mạnh hơn. Ngược lại, việc phá giá thị trường sẽ làm khách hàng mất niềm tin vào sản phẩm, dịch vụ và thị trường sẽ thu hẹp lại.
Từ quan điểm của nhà đào tạo về tiếp thị trực tuyến, ông Trương Văn Quý, Giám đốc EQVN cho rằng các đơn vị cung cấp dịch vụ lớn phải là người dẫn dắt thị trường cạnh tranh lành mạnh và dài hạn. Họ nên tư vấn và thực hịên cho khách hàng những giải pháp tiếp thị trực tuyến hiệu quả để thuyết phục khách hàng tìm đến mình ngày càng nhiều hơn, giúp cho “miếng bánh thị trường nở ra”. Theo ông, các đơn vị đào tạo cũng có thể là “chiếc cầu nối” hiệu quả giữa đơn vị cung cấp dịch vụ và doanh nghiệp.

Nguồn :marketingchienluoc

Xây dựng nhãn hiệu trên Internet

 
Quy luat tuong tac trong xay dung nhan hieu tren Internet Quy luật tương tác trong xây dựng nhãn hiệu trên Internet

Trong lịch sử loài người có năm phương tiện truyền thông đại chúng mang tính bước ngoặt và ảnh hưởng mạnh mẽ đến con người khi chúng xuất hiện. Đó là: Sách – Báo hay tạp chí – Đài radio – Vố tuyến truyền hình – Internet.
Đi từ điểm khởi đầu:
Phương tiện truyền thông đại chúng đầu tiên là tiếng nói của con người
Sách: Truyền đạt tri thức theo cấp số nhân, không chỉ chia sẻ kiến thức mà còn lưu truyền từ đời này sang đời khác
Tin tức có được nhờ tạp chí. Nhưng tạp chí không dựa trên quy trình in ấn từ thời in sách thì cũng không thể hình thành. Tuy nhiên điểm vượt trội của tạp chí là chỉ mất một đêm để xuất bản còn xuất bản một cuốn sách phải mất hàng tháng trời.
 Radio: Trở thành phương tiện truyền thông vô cùng hiệu quả khi ra đời.
Vô tuyến truyền hình: Là sự kết hợp giữa radio và hình ảnh chuyển động. VÀ nó trở nên phổ biến và ảnh hưởng làm thay đổi vai trò chủ đạo của Radio lúc bấy giờ.
Internet thì sao? Internet đóng vai trò gì cho ngành truyền thông?
Rồi lịch sử sẽ xếp Internet là phương tiện truyền thông vĩ đại nhất. Lý do vô cùng đơn giản: Internet là phương tiện truyền thông duy nhất cho phép có tính tương tác. Nhưng cũng cần khẳng định lại rằng: Các phương tiện truyền thông ra đời sau không hề thay thế những cái có trước mà những cái có trước là nền tảng cho các phương tiện truyền thông mới xuất hiện, thay đổi và điều chỉnh các phương tiện truyền thông trước nó.
Trên Internet, tất cả các nhãn hiệu nằm trong môi trường tương tác lẫn nhau. Về lâu dài, tính tương tác này sẽ quyết định cái gì có thể tồn tại hay không thể tồn tại trong môi trường Internet. Bí quyết để có một nhãn hiệu trện Internet là bạn phải làm thế nào để khách hàng và khách hàng tiềm năng của bạn có thể phản hồi lại những thông điệp bạn đưa ra.
Hiệu quả đạt được khi sử dụng một phương thức truyền thông này chưa chắc đã có được khi sử dụng một phương thức truyền thông này chưa chắc đã có được khi sử dụng một phương thức truyền thông khác. Rất khó, hay có thể nói là không thể, khi cố gắng chuyển đổi nhãn hiệu của một phương tiện truyền thông này thành nhãn hiệu của một phương tiện truyền thông khác.
Một ví dụ điển hình, có lẽ tạp chí điện tử thành công nhất đó là Consumer Reports Online với 590.000 người đăng ký sử dụng. Tuy nhiên, tạp chí điện tử này lại cướp mất nguồn thu của tờ Consumer Reports bản in thường.
Thực tế là, khi một phương thức này thành công thì phương thức truyền thông kia sẽ thất bại. Nếu muốn xây dựng một nhãn hiệu trên mạng, bạn cần phải xây dựng một nhãn hiệu hoàn toàn mới dành riêng cho loại phương tiện truyền thông này. Nói cách khác, cần phải tạo ra tính tương tác trên trang web và thường thì bạn phải có một nhãn hiệu mới.
Đặc điểm của tính tương tác:
  • Tương tác là khả năng nhập những chỉ dẫn của bạn và trang web sẽ cung cấp những thông tin bạn yêu cầu trong bản đăng ký yêu cầu. Hãy thử điền nội dung yêu cầu tìm kiếm vào Google, bạn sẽ nhận được một danh sách những website có chứa các thông tin bạn cần tìm theo đúng chủ đề.
  • Tính tương tác còn thể hiện ở khả năng cung cấp thêm thông tin dựa trên yêu cầu bạn đề ra. Ngoài cung cấp kết quả đúng với yêu cầu, Google còn cung cấp cho bạn các kết quả đề nghị mà cũng phù hợp với yêu cầu của bạn.
  • Tính tương tác thể hiện ở khả năng cho phép bạn đưa thông tin của riêng bạn lên Internet. Những trang web thành công là những xa lộ thông tin hai chiều. Cũng giống như khi bạn vào www.phongthuydongphuong.com  bạn có thể gởi bình luận, ý kiến đánh giá, quan điểm và các thông tin của bạn để nhiều người khác cùng xem, cùng trao đổi về một vấn đề, sau khi gởi bình luận các thông tin và bài bình luận, ý kiến của bạn sẽ đăng ngay trên web. Đó chính là sự tương tác.
  • Tính tương tác còn thể hiện ở việc trang web có thể cung cấp các bài kiểm tra khác nhau: kiểm tra trí thông minh, trình độ lái xe, kiểm tra thái độ làm việc, kiểm tra tâm lý. (Tham khảo: Trắc nghiệm nhanh.com)
Ngoài ra tính tương tác còn thể hiện ở khả năng giải quyết được những trường hợp phức tạp về giá cả (Khách hàng có thể tổng hợp, so sánh để đưa ra quyết định đúng đắn mà không tốn nhiều thời gian chỉ với Internet. Hay tính tương tác còn thể hiện ở chỗ trang web có khả năng dự đoán trước các tình huống và đưa ra các gợi ý giải quyết.
Một trong những thành công nổi bật trong kinh doanh trên mạng Internet là trang đấu giá eBay. Tận dụng tối đa những ưu điểm của khả năng tương tác của Internet. Thêm vào đó, cũng giống như các trang web thành công khác, eBay không hề kinh doanh ở đâu khác ngoài môi trường mạng.
Quy luật tương tác quyết định sự thành công hay thất bại của một nhãn hiệu trên Internet, Thiếu sự tương tác thì trang web cùng nhãn hiệu của bạn không thể thành công được.
Nguồn:interbrandmedia